Chuyện ăn thịt chó: Người ta vẫn có thể yêu cún cưng theo từng đĩa. Chó được thui bằng rơm mới, vàng ruộm, thịt được chặt ra từng miếng thơm phưng phức.
Tôi nghĩ rằng những người ăn thịt chó cũng là những người yêu chó. Chỉ có điều, mỗi người lại có cách yêu chó khác nhau. Người thì yêu chó theo từng con, người thì yêu chó theo từng đĩa.
Thịt chó bán trên đường Phạm Văn Hai TP.HCM
Nguyên Nga
Có một lần nọ ghé về một vùng nông thôn ở miền Bắc để công tác rồi ghé vào một nhà dân. Gia chủ quý lắm, ngả ngay con chó nhà đang nuôi ra để thịt.
Lá mơ, riềng, sả được hái ngay trong vườn nhà. Mắm tôm được anh con trai ông chủ nhà vắt chút chanh, đánh lên cho sủi bọt; khi đánh xong anh còn mút đầu đũa chùn chụt xem vị mắm tôm đã vừa ăn chưa.
Đó là một trong những bữa thịt chó ngon nhất tôi từng ăn. Không phải chỉ ngon bởi vì tất cả là sản vật cây trong nhà, lá trong vườn, toàn thứ nhà trồng được; ngon còn bởi vì tấm lòng gia chủ qua từng đĩa thịt luộc thơm lừng; từng tô rựa mận và xáo măng bắt mắt, dậy mùi.
Tôi không gọi ăn thịt chó là truyền thống, nhưng nhiều người nghĩ như tôi, luôn cho rằng chó khi sống nên là một vật nuôi có ích trước khi là một thực phẩm bổ dưỡng. Vài lần đi ăn tiệc đám cưới ở nông thôn miền Bắc, tôi thấy mâm nào cũng có thịt chó. Người xứ này cho rằng không những thịt chó ngon, bổ mà còn rất an toàn.
THĂM DÒ Ý KIẾN
Bạn có ủng hộ chủ trương không ăn thịt chó?
Bởi vì chó không được nuôi công nghiệp phổ biến như gà, heo. Có lẽ rất ít con chó bị tiêm chất tạo nạc, thuốc tăng trọng nên khi ăn thịt chó sẽ hạn chế được những rủi ro khi nguồn thức ăn không đảm bảo.
Từ lâu nhiều người Việt đã ăn thịt chó, coi đó như món khoái khẩu. Thậm chí dân gian còn có thơ ca, nhạc sĩ chuyên nghiệp còn sáng tác bài hát về chuyện ăn thịt chó. Với những người như vậy, tôi nghĩ thịt chó với họ còn là đam mê. Bởi vì không ai sáng tác thơ, viết nhạc về chuyện ăn thịt bò, thịt gà, thịt heo… bao giờ.
Đấy là Việt Nam, còn nhìn rộng ra thì ở nước ngoài cũng không kém phần long trọng. Ví như Hàn Quốc, một quốc gia phát triển, người dân vẫn coi thịt chó là món khoái khẩu. Hay như Trung Quốc, có nơi còn tổ chức cả lễ hội thịt chó.
Vậy nên nếu nói ăn thịt chó là không văn minh thì không đúng, văn hóa mỗi nơi mỗi khác, không thể lấy văn hóa nơi này mà đánh giá nơi kia.
Văn Mai Hương lên tiếng chỉ trích công ty sản xuất thịt chó đóng hộp
Văn hoá ăn thịt chó từ xưa đến nay vốn gây ra nhiều tranh cãi khi loài vật này là thú cưng được nhiều người yêu mến. Ăn thịt chó đã vấp phải nhiều ý kiến trái chiều, nay còn làm cả thịt hộp từ nguyên liệu này khiến cả nữ ca sĩ như Văn Mai Hương cũng phải lên tiếng.
Văn Mai Hương lên tiếng chỉ trích công ty sản xuất thực phẩm thịt chó đóng hộp.
Văn Mai Hương chỉ trích gay gắt công ty sản xuất thịt chó đóng hộp
Mới đây, trên trang fanpage chính thức của mình, Văn Mai hương đã chia sẻ một bài đăng khá dài. Nữ ca sĩ trích dẫn nguồn từ một tài khoản khác trên mạng xã hội về thông tin một công ty thực phẩm đang sản xuất mặt hàng thịt chó đóng hộp.
Theo đó, bài đăng bày tỏ quan điểm khá gay gắt về việc sử dụng nguyên liệu thịt chó để làm các sản phẩm đóng hộp. Chủ bài viết cho rằng đây là "thứ sản phẩm ghê tởm, man rợ".
Hình ảnh về sản phẩm thịt chó đóng hộp gây tranh cãi.
Bài viết với lời lẽ chỉ trích khá gay gắt và kêu gọi cộng đồng mạng tẩy chay sản phẩm của công ty này: "Hãy cho họ biết rằng không phải chúng ta là những người lạc loài ở xứ mọi rợ, mà chính họ là những kẻ mọi rợ chưa tiến hoá đủ đầy hoàn chỉnh, và đang mượn quần áo con người mặc lên thân để len lỏi sinh tồn bằng cách đáng khinh bỉ nhất".
Trích dẫn bài viết lên fanpage chính thức, Văn Mai Hương cũng không ngần ngại bày tỏ quan điểm của mình. Nữ ca sĩ chia sẻ: "Cuộc đời này sao lại có những thứ kinh tởm như thế này?"
Video xem thêm: Văn Mai Hương tình tứ hết cỡ cùng 'người yêu mới' trong MV tại Nhật Bản
CĐM người đồng tình, kẻ lên tiếng đáp trả cực gắt
Trước bài đăng của Văn Mai Hương về vấn đề được xem là khá nhạy cảm trong xã hội, cộng đồng mạng cũng đưa ra nhiều ý kiến trái chiều. Một số đồng tình với quan điểm trên và ủng hộ việc thẳng thắn lên tiếng của Văn Mai Hương.
Họ cho rằng việc ăn thịt chó đã là quá tàn nhẫn, nay lại lôi ra để chế biến thành 7749 món như vậy, thậm chí còn gọi là đặc sản. Rõ ràng chó là thú cưng của con người, được xem là người bạn thân thiết, loài vật trung thành mà sao nỡ có những hành động dã man đến vậy.
"Mặc dù có nhiều chỗ nuôi chó để cung cấp thịt nhưng mà chó nhà mình vẫn cứ mất đều. Tới khi nào chó nhà mình không bị bắt trộm thì mình hết chửi, chứ giờ thì vẫn ghét bọn ăn thịt chó".
"Trong khi các nước khác đang cố gắng hạn chế nạn ăn thịt chó thì Việt Nam phát triển đến thịt chó đóng hộp. Bảo dân trí thấp thì lại tự ái".
"Người Bắc đa số ăn thịt chó, chắc họ nghĩ họ đang sống ở năm 1945, vẫn còn nạn đói nên sống mọi rợ như vậy, ít ai được như Hương, ủng hộ em!"
Dân mạng tranh cãi kịch liệt về thịt chó đóng hộp ở Ninh
Dân trí - Mới đây, hình ảnh về thịt chó đóng hộp được lan truyền trên khắp các trang mạng xã hội đã tạo một cuộc tranh cãi rất kịch liệt.
Ở Việt Nam, thịt chó là món ăn khoái khẩu của rất nhiều người. Tuy nhiên, món ăn này gần đây bị lên án nhiều bởi đa phần nguồn thịt chó tại các quán đều mua từ những kẻ bắt trộm chó.
Nhấn để phóng to ảnh
"Đặc sản thịt chó" đóng hộp
Các đối tượng này thường đánh bả để dễ bắt trộm chó. Nhưng cũng vì thế, khi ăn phải chó bị đánh bả sẽ dễ mắc các loại bệnh nguy hiểm.
Tuy vậy, các quán thịt chó vẫn rất đông khách vào các dịp cuối tháng hoặc trong thời tiết mưa lạnh. Không gì ngăn cản được đam mê của một số người thích ăn thịt chó, dù rủi ro vẫn luôn tiềm ẩn.
Mới đây trên mạng xã hội, hình ảnh thịt chó đóng hộp đã xuất hiện khiến cư dân mạng lại có một phen tranh cãi kịch liệt.
Theo hình ảnh đó, những chiếc hộp có in bao bì “Đặc sản thịt chó” được sản xuất tại Ninh Bình. Bao bì còn ghi rõ loại thịt chó đóng hộp này được sản xuất tại Nhà Máy Đồ Hộp Ninh Bình.
Chia sẻ lý do phản đối việc ăn thịt chó, bạn Thái Phương cho rằng: “Tôi không ăn thịt chó, vì tôi sợ ăn nhầm phải con chó đã giữ nhà cho người ta suốt nửa đời, sợ ăn nhầm bạn của một đứa trẻ nào đó, sợ ăn nhầm chó cảnh sát về hưu, sợ ăn nhầm phải chó công vụ từng cứu mạng con người, sợ ăn nhầm “đôi mắt” của người mù nào đó,… Và hơn thế nữa, bởi vì tôi yêu chúng".
Nhấn để phóng to ảnh
Chị Trịnh Thị Mỹ Huyền cũng cho biết, chó là bạn không phải để ăn. Chỉ cần cho nó ăn, nó sẽ ở bên cạnh bạn. Trung thành nhất chỉ có chó.
Có người thì lại cho rằng, nước ngoài nể phục Việt Nam khi ăn được trứng vịt lộn và thịt chó.
Tuy nhiên, vẫn có nhiều người đồng tình với việc ăn thịt chó. Tài khoản Hung Pham chia sẻ: “Tôi không ăn thịt chó nhưng thấy những người chửi người ăn thịt chó thật buồn cười. Các bạn có tư cách gì chửi người ta ăn món mà bạn không thích. Ăn thịt chó không vi phạm pháp luật Việt Nam, cũng không có gì là suy đồi trong tiêu chuẩn đạo đức.”
Nhấn để phóng to ảnh
“Phong trào phản đối ăn thịt chó bắt nguồn từ phương Tây, họ lấy tiêu chuẩn của họ áp đặt lên châu Á. Từ bao giờ mà phương Tây là thước đo tiêu chuẩn đạo đức. Còn ví dụ trong vấn đề ăn uống, theo một số đạo, con bò là vật rất linh thiêng được các tín đồ thờ cúng. Số tín đồ theo đạo này thậm chí còn chiếm khoảng 1/7 dân số thế giới. Thế nhưng nhiều nơi vẫn ăn thịt bò, thậm chí cả phương Tây”, tài khoản này chia sẻ thêm.
Nhấn để phóng to ảnh
Nhiều bình luận hài hước cho rằng thịt chó đóng hộp sẽ thiếu hương vị và không ngon
Chưa rõ đối tượng khách hàng, nơi tiêu thụ là trong nước hay xuất khẩu, cũng chưa tìm thấy mặt hàng này ở các siêu thị, cửa hàng tiện lợi tại Hà Nội, song nhiều người yêu chó đã vô cùng phẫn nộ khi thấy những hình ảnh này.
Tuy nhiên, qua xác minh của Dân trí, đây là thông tin đã xuất hiện từ năm 2018. Không hiểu sao đến thời điểm này nhiều người lại đưa ra làm câu chuyện bàn tán.
Thế Hưng
Người miền Bắc ăn 4 triệu con chó mỗi năm
Nhu cầu ăn thịt chó ngày càng tăng cao, và là một nghề kinh doanh béo bở, nếu không nói là quá mức tàn ác. Không ai biết chắc rằng, người Việt Nam bắt đầu ăn thịt chó từ lúc nào. Nhưng thói quen tiêu thụ thịt chó, phần lớn ở miền bắc là một truyền thống lâu đời. Con số thống kê không chính xác ước lượng khoảng 4 triệu con chó bị làm thịt mỗi năm. Thịt chó được đưa lên bàn ăn trong mỗi dịp đoàn tụ gia đình, và nhiều dịp lễ tết đặc biệt khác.
Nhiều người tin rằng, con người uống máu nóng của chó trong những đêm đông lạnh giá sẽ giúp chữa bệnh, vì thịt chó giàu chất đạm, ít độc hại so với thịt heo, thịt gà và thịt bò mà người Việt Nam tiêu thụ mỗi ngày. Một số người Việt Nam còn tin rằng, một con vật chịu nhiều đau đớn trước khi chết thì thịt sẽ ngon hơn. Điều này giải thích vì sao con chó bị giết chết một cách tàn bạo tại Việt Nam, hoặc bị đập bằng một thanh sắt đến 12 lần, hoặc bị cắt cổ, đâm vào ngực bằng một con dao phay, hoặc bị đốt sống. Ở Hà Nội, các nhà hàng bán thịt chó còn treo đầu con chó, hoặc treo một miếng thịt chó nướng sực nức mùi thơm bằng một thanh sắt dầy.
Thói quen ăn thịt chó đã khiến các con đường giao thông vùng biên giới Thái – Lào tấp nập dân buôn lậu chó từ đó hướng về Hà Nội trong thời gian qua.
Thịt chó luộc, dồi chó dùng kèm với rau sống & mắm tôm tại một quán thịt chó bình dân ở miền Bắc Việt Nam.
Việt Nam là một trong những nước ăn thịt chó nhiều nhất thế giới với 5 triệu con chó được làm thịt và tiêu thụ mỗi năm.[10] Theo một khảo sát vào năm 2013, 80% người dân Việt Nam ủng hộ ăn thịt chó[11]Chó ở Việt Nam dùng làm thịt thường là chó cỏ không phải các loại chó kiểng vì được cho là vừa đắt vừa không ngon.
Ở miền Bắc Việt Nam, thịt chó được một số lượng lớn dân cư đặc biệt ưa chuộng. Những vùng thịt chó nổi tiếng (hoặc đã từng nổi tiếng) đến mức được định danh thương hiệu (một cách không chính thức) có thể kể đến "thịt chó Nhật Tân" (Hà Nội), "thịt chó Vân Đình" (Hà Nội), "thịt chó Việt Trì" (Phú Thọ), "thịt chó Tiên Lãng" (Hải Phòng), "thịt chó Cầu Vòi" (Nam Định)[12].
Theo cố Giáo sư Trần Quốc Vượng, cội nguồn ăn thịt chó bắt đầu từ lễ hiến tế chó trong tín ngưỡng dân gian. Người ăn đầu tiên là thầy cúng, thầy phù thủy mà cũng chỉ ăn lén, ăn vào lúc tối trời, đêm hôm. Do mặc cảm tội lỗi xưa nay chẳng ai nói toạc ra là ăn thịt chó. Do kiêng kỵ nên người ta nói chệch là ăn thịt cầy, mộc tồn ("cây còn" nói lái của "con cầy").[13]
Thịt chó thường được các đầu bếp Việt Nam chế biến thành các món: thịt luộc (biến thể là hấp hoặc phay); dồi nướng; lòng hấp; thịt nướng (biến thể là quay, chả chìa); nhựa mận (biến thể là xào lăn); xáo măng (biến thể là lẩu). Các gia vị chính để chế biến món thịt chó là: sả, riềng, mẻ, mắm tôm, lá mơ trắng. Các đồ ăn và rau thơm đi kèm: bánh đa, húng chó, hành sống, mơ tam thể, củ sả, ớt trái,.. Tuy phổ biến khái niệm "thịt chó bảy món", "cầy tơ bảy món", nhưng đó chỉ là con số có tính giả định, thực tế số lượng các món thịt chó có thể nhiều ít tùy theo người đầu bếp. Ngoài các món thịt chó truyền thống như các món thịt luộc, xáo, rựa mận, xương, dồi, chả nướng, đùi, có nơi người ta đã chế biến thịt chó thành nhiều món mới như giả chuột, giả trâu, giả chim, giả dê, giả bò, gan nướng lá na, v.v... Bên cạnh các món ăn thịt chó truyền thống còn xuất hiện các món ăn mới được phát triển như lẩu chó, chó quay, giò chó, dăm-bông chó... Bằng nhiều cách thức chế biến sáng tạo, người Việt đã tạo nên sự đa dạng các món ăn từ thịt chó. Tuy thịt chó thường đi liền với húng chó, riềng, sả... nhưng đặc biệt nhất vẫn là mắm tôm. Đồ uống thường sử dụng với thịt chó là rượu đế; bia.
Quan niệm người Việt từ trước đến nay vẫn cho rằng: ăn thịt chó đầu năm, đầu tháng thì sẽ không tốt, không gặp may mắn trong cả năm, cả tháng đó; nhưng ăn thịt chó vào cuối năm, cuối tháng hoặc sau khi gặp một chuyện không hay thì lại là xua đuổi cái "vận đen" đi. Thịt chó cũng được sử dụng trong các dịp cỗ bàn, gặp mặt, cảm ơn, hội họp, quà tặng.
Trước đây, phần lớn chó ở Việt Nam bị người nhà tự giết thịt hoặc bán lấy tiền, nhưng gần đây, ngày càng nhiều người Việt Nam coi chó là một thành viên trong gia đình chứ không phải là tài sản để bán, là vật nuôi lấy thịt như trước. Để đáp ứng nhu cầu thịt chó cho các cửa hàng, rộ lên tình trạng câu trộm, bắt trộm chó gây nhiều bức xúc trong dư luận và người dân, nhưng pháp luật Việt Nam lại không có quy định đủ mạnh để răn đe tội phạm bắt trộm chó (các nhà làm luật Việt Nam vẫn giữ lối tư duy coi chó chỉ là một thứ tài sản rẻ tiền, trong khi thực tế nhiều người Việt Nam rất yêu quý và coi chú chó là một thành viên trong gia đình). Kết quả là nhiều vụ bắt trộm chó dẫn tới hậu quả nghiêm trọng (trộm chó bắn chết chủ nhà khi họ cố bảo vệ chó, hoặc kẻ trộm bị người dân bắt được và hành hung đến chết do quá bức xúc).[14]
Tại miền nam Việt Nam, việc ăn thịt chó trước kia không phổ biến (do người Pháp cai trị vùng này rất cấm kỵ việc ăn thịt chó). Chỉ từ sau 1954, khi người Công giáo từ miền Bắc di cư vào thì người miền Nam mới biết đến thịt chó một cách phổ biến. Nhiều vùng có đông người Công giáo di cư như Hố Nai, Biên Hòa... có nhiều quán thịt chó. Tại Sài Gòn, người ta dễ tìm thấy các quán thịt chó ở quận Tân Bình, Gò Vấp...
Thịt chó từ lâu đã được coi là một nét đặc sắc của văn hóa ẩm thực Việt Nam. Người xưa thường truyền tụng câu thơ:
Sống trên đời ăn miếng dồi chó
Chết xuống âm phủ, biết có hay không?''
Dân gian Việt Nam cũng lưu truyền một câu truyện cười nói về một đôi vợ chồng trẻ được ban ba điều ước, và điều ước đầu tiên của đôi vợ chồng là được ăn một miếng dồi chó.
Theo quan niệm của người Việt trước kia, người đàn ông lý tưởng phải là người tài hoa, phải biết cầm, kỳ, thi, họa. Nhưng quan trọng nhất là phải biết cả tửu (uống rượu) và ăn thịt chó:
“Làm trai biết đánh tổ tôm
Uống rượu thịt chó, xem nôm thúy Kiều”
Năm 1832, phái đoàn ngoại giao đầu tiên của Hoa Kỳ do Edmund Roberts làm trưởng đoàn và Đại úy Georges Thompson làm phụ tá đi trên chiếc thuyền Peacock và thả neo tại Vũng Lấm trong vịnh Xuân Đài, tỉnh Phú Yên, thăm chính thức nước Đại Nam. Vua Minh Mạng liền cử một phái đoàn từ Thuận Hóa vào Phú Yên gồm có Nguyễn Tri Phương và Lý Văn Phức, cùng lên thuyền Peacock, thết yến khoản đãi phái đoàn Mỹ quốc. Bữa tiệc gồm 2 con bò, 4 con chó, 5 bao gạo, 5 bình rượu, 30 con vịt, 30 con chim, trứng và các loại rau củ quả.[15][16][17][18]
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: Thịt chó là món ăn độc đáo của Việt Nam và nhiều nước châu Á, Bác lấy làm lạ thấy có người Việt Nam không biết ăn thịt chó”[19][cần số trang]
Thời gian gần đây, với việc chó được nuôi làm cảnh ngày càng tăng thì phong trào phản đối việc ăn thịt chó tại Việt Nam cũng ngày càng mạnh lên. Các tổ chức bảo vệ động vật lên án việc giết thịt chó tại Việt Nam là một truyền thống dã man từ thời trung cổ, đã vậy nó còn dẫn tới tình trạng bắt trộm chó gây nhiều căm phẫn trong dư luận. Vì vậy, các tổ chức này kêu gọi người Việt Nam hãy thay đổi thói quen ăn thịt chó, đồng thời Nhà nước Việt Nam cần thay đổi cách nghĩ xưa cũ và đưa ra bộ luật cấm việc giết mổ và ăn thịt chó như các nước khác.
Tuy vậy theo một khảo sát vào năm 2013 trên trang tin VietNamNet, 80% người Việt Nam được hỏi đã ủng hộ ăn thịt chó, và chỉ một phần nhỏ phản đối việc ăn thịt chó (20%). Trong đó 66% cho rằng nên ăn vì thịt chó bổ dưỡng và lâu nay ta vẫn ăn, 13% cho rằng nên ăn nhưng quản lý chặt việc giết mổ, tránh hình ảnh phản cảm. Phần lớn người tham gia khảo sát cho rằng, du khách đến thăm Việt Nam nên tôn trọng văn hóa của người Việt, nếu thể hiện thái độ coi thường thì đó là sự kỳ thị văn hóa.[20]
Nhà văn Vũ Bằng đã viết về món thịt chó trong cuốn bút ký mang tên Miếng ngon Hà Nội của ông:
“
Thực vậy, tôi đố ai lại tìm ra được một miếng ngon nào khả dĩ liên kết được dân ý đến như vậy, một miếng ngon mà từ vua chí quan, từ quan chí dân, từ ông tư bản đến người làm công, thảy đều ưa thích, thảy đều dùng được, thảy đều thèm muốn, thảy đều công nhận... "ba chê"
Ôi, cứ nghe người ta nói thì đổ thóc giống ra mà ăn! Ăn thịt chó là thiếu văn minh, ăn thịt chó là bẩn thỉu, ăn thịt chó là bất nhân bạc ác... và còn gì nữa, và còn gì gì nữa!
Người ta viện lý con chó là bạn của loài người, ăn thịt chó là mọi rợ, thế thì tại sao con ngựa, “một chinh phục cao cả nhất của loài người” mà người Âu Mỹ cũng đem ra “đánh chén”? Bảo là con chó ăn bẩn, thế thì con gà, con lợn, con cá ăn uống sạch sẽ ư?
Không. Con chó là con vật để cho người ta ăn thịt; ăn thịt chó không khác gì ăn thịt thỏ, ăn thịt nai, ăn thịt bò. Huống chi thịt chó lại còn ngon và bổ; vì thế tôi cho rằng mặc dầu người ta đàm tiếu thế nào đi nữa, thịt chó vẫn cứ là một món ngon bất diệt của dân ta và tôi tin rằng: “Nước ta còn, thịt chó còn” mà văn hóa ẩm thực của ta mai sau hay, dở là ở điểm có biết duy trì thịt chó hay không vậy.
Nội dung của bài báo nhan đề "Văn hóa thịt chó của Việt Nam xung đột với thị hiếu hiện đại" vừa đăng tải trên tờ Deutsche Welle đã được lược dịch như sau:
Thịt chó từ lâu đã là món ăn khoái khẩu của người dân Việt Nam. Ảnh: Deutsche Welle.
Hoàng đã ăn thịt chó từ khi còn nhỏ. Anh không thể hình dung sẽ có lúc mình không còn được ăn món này ít nhất 2 lần/tháng.
Tháng trước, UBND TP.Hà Nội có văn bản về quản lý việc nuôi, giết mổ, kinh doanh và sử dụng thịt chó, mèo. Theo đó, thành phố yêu cầu các đơn vị liên quan đẩy mạnh phòng bệnh dại; tuyên truyền để người dân nhận thức được và từ bỏ thói quen ăn thịt chó, mèo.
Chính quyền Thủ đô cho rằng, việc kinh doanh, giết mổ, sử dụng thịt chó, mèo gây ra những hình ảnh phản cảm đối với du khách quốc tế. Ngoài ra, những người tham gia giết mổ và sử dụng thịt chó, mèo còn có nguy cơ mắc các bệnh truyền nhiễm như: bệnh dại, tả, xoắn khuẩn...
Những người mê ăn thịt chó và các chủ cửa hàng bán loại đồ ăn này tỏ ra lo ngại, lệnh cấm sẽ được mở rộng và quyết định chính thức cấm ăn thịt chó, mèo trên toàn quốc.
Theo Hoàng, nhu cầu ăn thịt chó, mèo hiện rất cao. Chỉ riêng một con hẻm nhỏ trong TP.HCM đã có ít nhất 4 cửa hàng bán thịt chó. Mọi người tụ tập quanh những chiếc bàn nhỏ để nhậu các món làm từ thịt chó cùng với rượu hoặc bia.
Hoàng đang ngồi cùng 3 người bạn ở một bàn trong quán. Anh nói: "Đối với chúng tôi, ăn thịt chó là truyền thống. Nó bình thường giống như ăn hải sản hoặc thịt gà".
Nhiều người Việt Nam cũng có quan niệm như Hoàng. Đối với họ, thịt chó không khác gì các loại thịt khác. Thêm vào đó, một số người còn tin rằng, ăn thịt chó vào cuối tháng sẽ giúp họ "giải đen". Đó là lí do tại sao các nhà hàng bán thịt chó luôn đông khách hơn vào cuối tháng.
Chính quyền Thủ đô cho rằng, ăn thịt chó làm ảnh hưởng đến hình ảnh Thủ đô văn minh hiện đại. Thói quen này còn có thể dẫn đến việc lây nhiễm căn bệnh dại chết người.
TP.HCM cũng đang áp dụng cách làm cứng rắn hơn. Hồi tháng 9 vừa qua, chợ bán thịt chó lớn nhất thành phố vừa bị thanh kiểm tra đột xuất. Báo chí đưa tin, nhiều chủ cửa hàng bị phạt và một lượng lớn thịt chó chưa qua chế biến bị thu giữ vì không rõ nguồn gốc xuất xứ.
Một hiện tượng phổ biến ở Việt Nam là chó bị bắt trộm rồi bán cho các nhà hàng.
Ông Chiến, một người đã bán thịt chó được hơn 10 năm ở TP.HCM, cho hay áp lực đối với những người bán thịt chó đã gia tăng trong 5 năm trở lại đây. Ông cần phải rất minh bạch về nguồn nhập thịt chó để kinh doanh.
"Toàn bộ thịt tôi đang bán là từ một nguồn cung cấp đủ tiêu chuẩn. Tôi có mọi giấy tờ và chứng nhận cần thiết. Xã hội luôn coi thường chúng tôi nên tôi cần giữ cho việc kinh doanh của mình càng trong sạch càng tốt", ông Chiến giải thích.
Nhà hàng của ông là một trong những cơ sở được ưa thích trong thành phố. Mỗi tháng, nhà hàng thu hút khoảng 1.000 thực khách và sử dụng hết khoảng 100 con chó. Theo ông, có cầu ắt có cung.
Ước tính ở Việt Nam mỗi năm có 5 triệu con chó bị giết mổ để phục vụ nhu cầu ăn uống. Trong khi con số này ở Trung Quốc lên tới gần 20 triệu con.
Các nhà hoạt động vì quyền động vật ủng hộ việc cấm ăn thịt chó. Họ đã đấu tranh suốt nhiều năm qua để đưa món ăn gây tranh cãi này ra khỏi thực đơn, với lí do việc giết hại chó, mèo là dã man và người Việt thường lo sợ cho sự an toàn của thú cưng.
Ông Chiến cũng biết chuyện phản đối ăn thịt chó. Ông nói sẽ ngưng bán nó nếu chính quyền ban hành lệnh cấm. Song, ông hoài nghi mọi việc sẽ diễn tiến xa đến như vậy.
Theo Tuấn Anh (Vietnamnet)
Nói không với thịt chó
(ĐCSVN) - Gần đây, Ban quản lý an toàn thực phẩm (ATTP) TP. Hồ Chí Minh khuyến cáo người dân nên từ bỏ ăn thịt chó, để tránh nguy cơ nhiễm bệnh và tạo dựng hình ảnh đất nước Việt Nam văn minh, hiện đại trong thời kỳ hội nhập, giao lưu với thế giới.
Hàng trăm con chó được chuyên chở bằng xe tải. (Ảnh: Thanh Đạm)
Thịt chó tiềm ẩn nguy cơ gây bệnh
Theo Ban quản lý ATTP TP, mặc dù pháp luật nước ta không cấm sử dụng thịt chó, nhưng cũng không đưa loài chó vào danh mục vật nuôi để giết thịt làm thực phẩm cho con người.
Vì vậy, việc chăn nuôi, giết mổ, sử dụng thịt chó chưa qua kiểm dịch, kiểm soát, tiềm ẩn nhiều rủi ro về sức khỏe do thịt nhiễm các vi sinh vật gây bệnh, đặc biệt là virus gây bệnh dại; nhiễm kí sinh trùng, trong đó có trứng và ấu trùng không phát triển thành giun trong ruột mà xâm nhập vào gan, phổi, các phủ tạng khác, thậm chí có thể xâm nhập vào cả não và mắt.
Hiện tượng này được gọi là hội chứng ấu trùng di chuyển nội tạng (larva migrans) gây ra nhiều bệnh nguy hiểm cho con người; nhiễm hóa chất tồn dư trong thịt chó, đặc biệt là các hóa chất dùng để đánh bả chó, những hóa chất này thường rất độc và có thể gây chết người.
Ngoài ra, hiện nay hệ thống pháp luật Việt Nam chưa xem thịt chó là một loại thực phẩm như thịt heo, bò, gà... Vì thế các quy định liên quan đến việc kiểm soát chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm đối với thịt chó là chưa có.
Đưa ra ý kiến của mình, anh Nguyễn Thanh Huyên (sống tại phường Phú Hữu, quận 9, TP. Hồ Chí Minh) cho rằng, chúng ta nên ủng hộ khuyến cáo trên và từ bỏ thói quen ăn thịt chó, để đảm bảo sức khỏe cho bản thân tránh nguy cơ nhiễm bệnh. Đồng thời, thể hiện tính nhân văn và văn minh trong thời đại hội nhập.
Theo anh Nguyễn Công Dũng, ngụ tại quận Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh, các nước phương Tây không ăn thịt chó vì họ thành thói quen cũng như văn hóa từ xa xưa. Còn ở các nước phương Đông vẫn có thói quen ăn thịt chó. Vì vậy, trước khuyến cáo của Ban quản lý ATTP TP, người dân chưa thể thay đổi ngay một thói quen đã hình thành từ lâu, và việc cần làm trước mắt là tuyên truyền và kiểm dịch, để tránh lây lan bệnh tật cho người dân. Khi vận động không ăn thịt chó, phải chú trọng vấn đề an toàn thực phẩm và sức khỏe.
Ban quản lý ATTP TP.Hồ Chí Minh cũng khuyến cáo trong điều kiện nuôi, giết mổ, bảo quản như hiện nay, nguy cơ không đảm bảo an toàn thực phẩm rất cao, thậm chí gây tử vong nếu sử dụng thịt chó bị nhiễm bệnh dại hoặc những vi sinh vật gây bệnh khác.
Hưởng ứng lời kêu gọi không ăn thịt chó
Về quan điểm dân gian là ăn thịt chó nhằm giải đen, ông Nguyễn Hùng Vĩ, nhà nghiên cứu văn hoá dân gian, Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn cho biết, nhiều người nghĩ ăn thịt chó giải đen nhưng đây là một quan niệm từ ngày xưa có vẻ sai lầm. Mọi việc như thế nào là do bản thân của mình gây ra. Trên thực tế, hiện chưa có một nghiên cứu đánh giá hay ghi chép nào cho rằng ăn thịt chó có giải đen.
Anh Trần Văn Hùng - sinh viên Đại học Bách Khoa TP. Hồ Chí Minh chia sẻ: "Trước đây trước khi nghĩ đến ăn thịt chó là tôi xem lịch có phải cuối tháng hay không? Giờ đây tôi suy nghĩ lại thấy không nên ăn thịt chó. Biết là không cấm nhưng bản thân thấy thương con vật mình nuôi bị đem ra ăn thịt. Hơn nữa, giờ chó mắc bệnh dại không ít, nhiều hàng quán còn bán cả chó bả, người ăn vào đã nhận hậu quả rõ ràng rồi. Cộng với hàng quán thịt chó tràn lan, không biết chó bệnh hay khoẻ, cứ ăn vậy là tự gieo mầm bệnh cho mình. Vì vậy, tôi rất đồng ý và sẽ hưởng ứng khuyến cáo của Ban quản lý ATTP TP về việc nên từ bỏ thói quen không tốt này".
Cùng quan điểm, anh Nguyễn Văn Hào (nhân viên văn phòng ở quận 2) cho rằng, "Trước kia cứ khi tiếp khách là cả nhà tôi đều mua thịt chó về ăn, nhưng giờ suy nghĩ lại tôi thấy việc làm này rất không tốt. Ở nước ngoài người ta rất thương chó, nếu qua đây thấy người Việt ăn thịt thú nuôi thì rất không hay, sẽ tạo nên một cái nhìn không mấy thiện cảm về người Việt".
Đồng thời anh Hào khẳng định, "Từ nay tôi sẽ không ăn thịt chó nữa, đồng thời phân tích cho người thân hiểu để cùng từ bỏ thói quen không tốt này".
Đồng tình với ý kiến trên, ông Nguyễn Thanh Hà, nhân viên ngân hàng cho biết, " Thật sự là ngày còn bé tôi cũng được bố mẹ cho ăn thịt chó và cảm giác rất thơm ngon, nhưng khi ra nước ngoài sinh sống thì bỗng dưng không còn muốn ăn nữa vì nước ngoài họ không ăn thịt chó. Sau 20 năm thì tự nhiên không có cảm giác thích thịt chó. Vì vậy, tôi tuyệt nhiên nói không với thịt chó”
"Bây giờ lương thực thực phẩm phong phú, người dân có thể ăn nhiều món khác mà không buộc phải ăn thịt chó. Do đó, bản thân tôi thấy khuyến cáo thì rất nên, còn quy định cấm thì không nên, vì với một số làng xã ở Việt Nam, ăn thịt chó đã là tập quán và không thể thiếu", ông Nguyễn Thanh Hà nói thêm.
Từ xa xưa, chó luôn là người bạn trung thành của con người. Tuy rằng truyền thống để lại người dân vẫn giết và ăn thịt chó, nhưng giờ đây chúng ta hãy thay đổi và đón nhận văn minh có tính chắt lọc từ phương Tây và nói không với thịt chó./.
Chi Mai
Trích trong sách Tự hào Văn Minh Việt, tái bản lần thứ 2/ cuối năm 2018)
Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hà Nội Vừa Đề Xuất Cấm Bán, Chế Biến, Ăn Thịt Chó Mèo Trên Địa Bàn Hà Nội Đã Gặp Nhiều Ý Kiến Phản Đối Cho Rằng “Thịt Chó Là Món Ăn Truyền Thống Của Dân Tộc Việt Nam”. Vậy Sự Thật Lịch Sử Là Thế Nào?
Xin Giới Thiệu Bài Viết Của Ông Vũ Ngọc Phương Để Bạn Đọc Thư Giãn
Ngược dòng lịch sử, năm 247 trước Công nguyên, Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc lúc đó có địa giới chủ yếu là phía bắc sông Hoàng Hà và một phần của nước Sở ở lưu vực sông Dương Tử (sông Trường Giang), kết thúc thời Chiến quốc. Năm 218 trước Công nguyên, nhà Tần sai Hiệu úy Đồ Thư cầm 50 vạn quân (nửa triệu quân chưa kể dân phu) chia làm 5 đạo cùng với các tội nhân tiếp vận lương cùng vượt sông Dương Tử tiến về phía Nam đánh chiếm đất của Bách Việt. Chỉ trong khoảng hơn một năm (217 Tr.CN), quân Tần đã chiếm được gần hết vùng đất rộng lớn của Bách Việt từ nam sông Dương Tử ngày nay ở Trung Quốc là các tỉnh Hồ Bắc, An Huy, Chiết Giang, Hồ Nam, Giang Tây, Phúc Kiến, Quảng Đông… đến Hải Nam. Sau khi chiếm đất Bách Việt, Nhà Tần đưa những người bị tội vào ở lẫn lộn với người Bách Việt 13 năm, thực hiện lần đầu tiên chính sách đồng hóa chủng tộc của người Hoa Hạ – sau gọi là Hán.
Sử sách thời cổ đại ở Trung Quốc viết năm 214 Tr.CN, quân Tần đi xuyên sơn vào đất Lạc Việt, bị khốn gần 10 năm, người Tây Âu và Lạc Việt không chịu hàng bỏ vào rừng, đêm ra đánh, lâu ngày quân Tần hết lương, bèn phá tan quân Tần chết mấy trăm vạn, giết được Đồ Thư. Quân Tần đại bại, đến năm 207 Tr.CN, vua Tần Nhị Thế phải cho quân Tần rút về nước. Mười phần lúc nhà Tần khởi binh xâm lược Bách Việt, khi thua trận tàn quân chạy về chỉ còn 2 ~ 3 phần chạy về Trung Nguyên (Trung Hoa).
Đây chính là một trong những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm đầu tiên, vĩ đại nhất thời Cổ đại của người Lạc Việt được ghi rất nhiều trong sử sách Trung Hoa. Những sự kiện lịch sử của người Lạc Việt phần lớn được ghi trong hàng trăm thư tịch cổ Trung Hoa. Vào những năm cuối thập niên 60 và thập niên 70, 80 của thế kỷ XX, khảo cổ học Trung Quốc đã khai quật được rất nhiều di vật khảo cổ về vũ khí, áo giáp, xe, hài cốt người… có niên đại thời nhà Tần. Trong các di chỉ khảo cổ học của người Việt được khai quật có xương chó, vũ khí in, đúc, khắc hình con chó.
Tượng đồng người dắt hai con chó – Di tích khảo cổ Phú Lương, Hà Đông, Văn hóa Đông Sơn trung kỳ niên đại 2,000 năm Tr.CN.
Dã Sử và truyền thuyết thời cổ nói rằng các đội quân Việt khi đánh quân xâm lược thì trong các Đoàn quân Việt thường nuôi hàng trăm con chó, được huấn luyện để canh gác nơi đóng quân cũng như được đưa ra xung trận đầu tiên làm rối loạn hàng ngũ quân giặc rồi quân Việt mới tiến công. Sự việc nuôi chó trong quân Việt đã được ghi lại trong sách Đại Nam nhất thống chí về việc Tướng quân Nguyễn Xí huấn luyện hàng trăm con chó trong quân khởi nghĩa của Lê Lợi chống nhà Minh. Trong các di vật Khảo cổ Văn hóa Hòa Bình đến Văn hóa Đông Sơn có nhiều chứng tích về thuần dưỡng chó và sự quý mến của người Việt với con chó nhà.
Trong bài viết “Quan hệ nhân – khuyển qua minh chứng của khảo cổ học” ngày 7/3/2018 của Học giả – Tiến sỹ Nguyễn Việt đã chứng minh nhiều sự vật minh chứng cho người Việt đã thuần hóa và nuôi chó cách đây vài chục nghìn năm. Xin lược trích có biên tập dưới đây:
“Trong số xương cốt động vật mà E. Patte, nhà khảo cổ học người Pháp khai quật tại cồn sò điệp Đa Bút (Vĩnh Lộc, Thanh Hóa) từ những năm 30 thế kỷ XX, đã có xuất hiện một số mảnh xương hàm chó. Những mảnh xương đó được các nhà khoa học xác nhận thuộc một loài chó nhà gần với loài chó Phú Quốc. Địa điểm khảo cổ học Đa Bút có niên đại carbon phóng xạ C14 có niên đại 7,000 năm cách ngày nay được coi như niên đại sớm nhất thuần dưỡng chó ở Việt Nam. Năm 2004, khai quật khảo cổ mộ bó xương người có niên đại gần 20 ngàn năm tại mái đá Đú Sáng (Kim Bôi, Hòa Bình) thuộc Văn hóa Hòa Bình cũng đã phát hiện một cặp hàm trên và hàm dưới của một loài chó. Cặp hàm này thuộc một cá thể chó trưởng thành được chôn như vật tùy táng trong ngôi mộ, có thể thấy đây phải là vật nuôi thân thiết với con người khi còn sống.
Tại các di chỉ Khảo cổ, xương chó đã được phát hiện rải rác trong các địa điểm khảo cổ học hậu kỳ đá mới và thời đại kim khí. Một số tượng chó, hình chó được người Việt khắc đúc được biết đến nay có niên đại khoảng 3,500 năm Tr.CN. Trong số tượng đất nung cỡ nhỏ phát hiện ở các hố đất đen tại di chỉ Văn hóa Đồng Đậu (Minh Tân, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc) hầu hết là xương gia súc, trong đó có những tượng chó bằng đất nung. Dường như chó đã trở thành vật nuôi gắn bó trong đời sống cư dân Việt có nền Văn minh kinh tế trồng trọt, canh tác lúa nước.
Vòng đồng Văn hóa Đông Sơn niên đại 2,500 năm Tr.CN có hình đôi chó.
Trong các di vật đồ đồng Văn hóa Đông Sơn thời kỳ 2,500 năm Tr.CN đến thế kỷ trước và sau Công nguyên. Con chó được thể hiện rất nhiều trong sinh hoạt, chiến trận của người Việt. Hình ảnh chạm khắc, tượng chó giúp người săn hươu là hình ảnh tiêu biểu trên hàng trăm rìu chiến hình mũi hài Đông Sơn. Ở đây, những chú chó luôn chặn đầu đàn hươu đang chạy, đối diện phía bên kia là những thợ săn giương cung, vung rìu trên các con thuyền độc mộc. Trên những tang trống hay thân thạp đồng có trang trí thuyền chúng ta thấy chó còn được đưa lên thuyền chiến đi cùng các chiến binh hóa trang tham dự lễ xuất quân hoặc lễ khải hoàn chiến thắng. Chó cũng từng thấy gắn bó với cảnh sinh hoạt của một nhóm người Đông Sơn hành lễ được đúc trên một cán dao găm bằng đồng và được đúc trên các vật trang trí gắn trên đồ gỗ hay trang phục, đầu tóc quý tộc Đông Sơn. Nhưng có lẽ bức tượng người bằng đồng đứng thẳng trong tư thế hai tay thân thiện đặt trên lưng hai con chó được khai quật trong khu mộ thân cây khoét rỗng Phú Lương (Hà Đông, Hà Nội) là hình ảnh tiêu biểu và sinh động nhất về quan hệ giữa người Đông Sơn và “loài khuyển” đáng quý này. Cho đến nay đã phát hiện được hai khối tượng như vậy. Nghệ nhân đúc đồng đã thể hiện một người đàn ông búi tó cao khoảng 8cm với cặp chó như sinh đôi ở hai bên đứng cao tới trên thắt lưng của người đàn ông đó. Hai tay người đàn ông đặt ngang lưng hai con chó, rất khoan thai, thân thiết.
Trải qua trên 7,000 năm gắn bó Nhân – Khuyển, chó càng trở thành người bạn không thể thiếu trong đời sống người Việt. Chó được trân trọng đặt canh cổng trong các kiến trúc tâm linh như: đền, miếu, lăng mộ… và có lẽ đã được gia nhập linh vật Việt dưới dạng Nghê thần. Thậm chí chó còn được lập đền thờ cúng như một Linh Cẩu. Đặc biệt, từ hơn 2,000 năm trước, chó còn được chọn đặt trong số 12 con vật tượng trưng cho mùa màng, cho số phận của con người và trời đất: Cứ 12 năm lại quay một vòng trở về với Tuất. Năm nay là năm Mậu Tuất”.
Rìu chiến Văn hóa Đông Sơn 2,500 Tr. CN có khắc hình người và chó săn hươu.
Có thể vì thế mà con chó được người Việt tôn thờ làm Linh vật Chó Đá canh giữ cổng đền, chùa hay trước cổng những gia đình khá giả ở xã thôn miền Bắc, ở trước nhiều ngôi mộ cổ, lăng… Nhiều nơi dưới chân tượng chó đá thường có một bát hương để thắp lễ vào các ngày rằm, mùng 1, ngày Tết Nguyên đán… Trong đời sống tâm linh người Việt, đặc biệt là người dân ở vùng Đồng bằng Bắc bộ, ở các tỉnh như Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Nội, Hà Nam, Thái Bình, Hải Dương thì người ta tin rằng con chó đá để ở ngoài cổng có thể đuổi được tà ma. Dân gian có câu “Mèo đến nhà thì khó, Chó đến nhà thì sang” là ý coi trọng con chó đã được người Việt thuần hóa, gắn bó từ hàng vạn năm. Con mèo là một gia súc tự thuần hóa vì thấy nơi ở của con người nhiều chuột, sẵn thức ăn, vậy nên bản tính hoang dã của con mèo cao hơn con chó.
Chùa Cầu ở Hội An, Quảng Nam ở miền Trung được xây dựng vào thế kỷ XVII có bảng câu đối chữ Hán có nhắc đến Chó là Thiên Cẩu – là một linh vật, Nhà Văn hóa Dân gian Nguyễn Bội Liên (1911-1996) có dịch và giải nghĩa câu đối chữ Hán ở phía cửa đông cầu:
“Thiên cẩu song tinh an cấn thổ, Tử vi lưỡng tỉnh định khôn thân”
Dịch là:
“Hai sao thiên cẩu ở yên nơi đất cấn Hai tướng tử vi định được chốn quẻ khôn”
Đôi câu đối chữ Hán ở cửa phía tây của cầu:
“Ngoạn nguyệt khách du châu vĩ điện, Khán hoa nhân đáo mã đề lôi”
Dịch là:
“Khách ngắm trăng thuyền nhanh như chớp Người xem hoa vó ngựa sấm vang”
Ở Hà Nội, gần sát đoạn lên dốc đường Thanh Niên, trên hồ Trúc Bạch có một gò đất nhỏ nổi lên, xưa có một ngôi miếu nhỏ, hoang phế gọi là Đền Cẩu Nhi. Thời kỳ 1980 – 1990, trong giới học giả Văn hóa đã từng có nhiều tranh luận về có hay không tục thờ chó của người Việt, người phản đối tục thờ chó gay gắt nhất lúc đó là cố Giáo sư Đỗ Văn Ninh, ông là một học giả uyên thâm, rất giỏi Hán văn và Pháp văn lại là một trong những học giả hàng đầu về khảo cổ học, sử học… Tuy nhiên, cuộc tranh luận cũng không phân thắng bại. Sau những năm 1995 – 2005, chính sách tự do tín ngưỡng của Đảng đã phục hồi nhiều nghi lễ thờ phụng cổ truyền trong dân gian. Sau khi được xã hội hóa cho phép phục dựng lại ngôi miếu hoang phế thành đền đã được khánh thành tháng 8/2017, trên cửa đền có biển là Thủy Trung Tiên. Sách Tây Hồ Chí có ghi lại sự tích đền Cẩu Nhi có liên quan đến cuộc định đô Thăng Long của vua Lý Công Uẩn. Thời Hậu Lê, đền có tên là Thủy Tiên Từ. Theo một số tài liệu và bài viết về lịch sử ngôi đền Cẩu Nhi có dẫn tài liệu của Thư viện Quốc gia về một tấm ảnh chụp ở đây khoảng cuối thế kỷ XIX thấy có tấm hoành của miếu cũ ghi chữ Thủy Tiên Từ.
Tượng con Nghê trước điện Thái Hòa, Huế.
Nghiên cứu Dân tộc học đã cho thấy con chó được coi là Vật Tổ (Totem) trong tín ngưỡng của người Cơ Tu. Truyền thuyết kể rằng, thuở xưa có một trận đại hồng thủy tiêu diệt muôn loài. Chỉ còn một cô gái và một con chó sống sót nhờ trốn vào một chiếc trống. Cô gái sống cùng với con chó như vợ chồng, sinh ra hai người con, một trai, một gái. Lớn lên, người con trai xuống đồng bằng, người con gái ở lại miền núi. Cuối cùng hai người lại gặp lại và lấy nhau, sinh ra một quả bầu. Từ quả bầu đó, người Cơ Tu, người Bru, người Tà Oi, người Việt… ra đời.
Truyền thuyết về ông Tổ Chó cũng còn thấy ở nhiều dân tộc khác ở Việt Nam như Chăm, Xê Đăng, Lô Lô, S’tiêng, Giẻ Triêng, Dao… Người Dao có truyền thuyết và phong tục thờ ông Tổ Chó. Truyền thuyết kể rằng: “Xưa kia có ông vua của người Dao không có con trai chỉ sinh được 12 người con gái. Một ngày giặc sang xâm lược, vua liền truyền rằng ai đánh thắng giặc vua sẽ gả cả cho 12 cô con gái, vua cầu khấn Trời để xin. Rồi xuất hiện một Long Khuyển ngũ sắc, đầu Chó, mình Rồng, lông ngũ sắc, lại có 12 cái đuôi, đến xin vua cho đánh giặc. Long Khuyển ra trận diệt hết giặc rồi trở về gặp vua. Nhà vua liền gả các con gái cho Long Khuyển được vua truyền ngôi báu”. Để nhớ ơn con Long Khuyển đã có công dẹp giặc cứu dân nên người Dao thêu hình con chó với 4 chân chó ở sau áo.
Văn học dân gian có tác phẩm Lục súc tranh công (khuyết danh) viết bằng chữ Nôm, xuất hiện khoảng đầu TK XX, con chó có mặt để nói về công trạng của mình:
“Đêm năm canh con mắt như chong: Đứa đạo tặc nép oai khủng động. Ngày sáu khắc, lỗ tai bằng trống, Đứa gian tham thấy bóng cũng kinh. Lại đến ngày kỵ lạp tiên sinh, Cũng ra sức săn chồn, đuổi sóc. Bao quản chui gai, lước góc, Chi này múa mỏ, lòn hang…”
“Khi sống thì giữ gìn của đời, Khi thác xuống giữ cầu âm giải, Người có phước, muông đưa ra khỏi, Ai vô nhân, qua chẳng đặng đâu! Chủ có lòng suy trước, xét sau, Khi lâm tử gạo tiền tống táng. Chủ đã có công dày ngãi rộng, Muông dễ không tiếp rước đãi đưa…”
Trước thời điểm ra đời của Lục súc tranh công, có lẽ dân Việt chỉ biết chó qua văn chương Hán học. Khi được coi là Linh vật, chó đá được đục khắc một hình hài oai nghiêm tĩnh lặng đặt hai bên trước cổng đền, chùa, miếu. Trong nghệ thuật tín ngưỡng Việt, từ hình ảnh chó – một gia súc, qua sáng tạo, thần hóa thành Chó Đá, rồi để tăng thêm sự linh thiêng, quyền uy trấn giữ ma quỷ nhưng vẫn gần gũi với đời sống người Việt thì Chó Đá biến thành con Nghê, với tư thế 4 chân ngồi canh giữ giống chó đá, nhưng về hình thức lại biến hóa có vây, có vẩy, dáng ngồi như chó, thân hình lại như rồng mà không phải là rồng.
Nghê đá trước lăng Diên Hương, Hiệp Hòa, Bắc Giang.
Tra chữ Nghê trong Từ điển Hán Việt từ nguyên của Bửu Kế, tại trang 1213 có ghi chú giải chữ Nghê là Ráng Trời, viết bộ Võ, nghĩa là “Trời mây sắc đỏ”. Không rõ chữ “Nghê” là một danh từ thuần Việt, không có trong Hán tự, hay là chữ Nôm? Khác chó đá ở hình thái linh vật bên ngoài, con Nghê có lúc được đưa lên cao hơn khi Chó Đá chỉ ngồi ở dưới đất. Nhiều tượng con Nghê được đặt trên đỉnh trụ tam quan, trên mái đền, chùa ở khắp các vùng Bắc bộ Việt Nam. Con Nghê còn được dùng để trang trí trong các ngôi đình cổ ở Việt Nam. Hình tượng con Nghê được chạm xà bẩy từ cột ra để đỡ xà dọc ở mái ngoài, được gắn trên đầu đao đình, chùa, đền, phủ.
Lược trích một số thông tin về hình tượng con Nghê: Một số cổ vật tượng và hình con Nghê đang lưu giữ tại Bảo tàng Guimet, Paris, Pháp: 1/ Chân đèn có tượng Nghê, chế tạo vào năm 1637 tại Bát Tràng, Hà Nội. 2/ Đĩa vẽ hình con Nghê. Tại Bảo tàng lịch sử Quốc gia, Hà Nội hiện đang lưu giữ 8 cổ vật hình con Nghê được làm qua nhiều triều đại phong kiến Việt Nam. Con Nghê thường được thấy qua các món đồ gốm cổ như: Tượng con Nghê, bình đốt trầm hương trên bàn thờ, nậm rượu hình con Nghê, chân đèn hình con Nghê, đĩa trang trí hình con Nghê. Còn lưu giữ được các hiện vật con Nghê thời Lý làm bằng gốm ở chùa Cổ Chất, tỉnh Nam Định.
Về chữ “Cẩu” có thể được dùng đầu tiên của Cao Bá Quát làm bài thơ tả hai ông quan chửi nhau vào thời vua Tự Đức (1847-1883). Các danh từ về chó có trong thơ văn như Khuyển mã hay Sài lang, là nói về giống Chó rừng hung dữ, xấu xí đáng ghét, không phải là loài chó nhà hiền lành thông minh, có hình dáng, lông sắc phong phú như sau này. Trong các sách truyện đời xưa, khi dùng từ “quân cẩu trệ” là muốn m chỉ sự nhục mạ đối tượng. Đây là mặt trái, xấu bẩn và ác của “Con” chó cũng như phần xấu, ác trong “Con” của Người.
Như vậy con chó là một trong những loài vật được người Việt nuôi từ rất sớm, nếu không nói là một trong những Dân tộc đầu tiên thuần hóa Chó rừng thành Chó nhà trong buổi bình minh Nhân loại. Từ những chứng minh khoa học đã được công bố, xác minh, trong phong tục truyền thống Việt đã không ăn thịt chó. Giáo lý cổ xưa nay còn lưu giữ truyền kỳ của Đạo Thánh Mẫu Việt có trên di tích Thiên Đàn do Vua Việt là Đế Minh lập để tế cáo Trời, Đất, dấu tích hiện vẫn còn trên núi Đại Minh, Quảng Tây, Trung Quốc có niên đại khá chính xác là năm Nhâm Tuất, cách đây 4,879 năm có khắc hàng nghìn chữ Việt cổ về chiêm bói, cúng tế và hình khắc vẽ chim và các biểu tượng khác được giải nghĩa thờ Tam vị là Trời, Đất, Nước… đến nay vẫn còn tồn tại trong tục thờ phụng Gia Tiên của Tam Tòa Thánh Mẫu là cấm kỵ ăn thịt chó, vì ăn thịt chó không khác gì ăn thịt người bạn trung thành. Người Việt gọi Chó là Tuất, được xếp hạng thứ 11 trong Lịch 12 con Giáp, Tuất đứng trước con Lợn – là Hợi.
Về nguồn gốc phong tục ăn thịt chó của người Bắc Việt Nam hiện vẫn chưa có một tài liệu, chứng cứ khoa học xác thực nào. Sự ăn thịt chó của người Bắc Việt Nam có được một số giáo sĩ người Pháp viết trong bài “Bản tường trình về xứ Đàng Ngoài của cha Baladinotti” được dịch theo bản tiếng Pháp: “La relation sur le Tonkin du P. Buldinotti. BEFEO. 1903. tr. 71 -78, được viết từ Ma Cao, ngày 12-11-1626 và chuyện người Việt ăn thịt chó trong bài “Những ghi chép về xứ Bắc kỳ của đức ông De la Bissachère” được ghi như sau: “Thịt chó được xem là tuyệt hảo hơn cả và giá bán là rất đắt. Lần đầu tiên 1 người châu Âu ăn thịt chó cần phải dằn lòng và cảm thấy bị cứa nát trái tim song đã qua rồi thì chẳng còn thấy khổ đau chi nữa”. Tiếp nữa là cuốn “Lịch sử tự nhiên, dân sự và chính trị xứ Đàng Ngoài” của tác giả người Anh là Richard, ông này cũng là thầy tu. Về tục ăn thịt chó thì ông ta viết như sau: “Tôi đã chứng kiến họ mổ thịt con chó, sau đó họ chế biến ra các món”, cho thấy người dân Đàng Ngoài (miền Bắc Việt Nam) đã ăn thịt chó từ thế kỷ XVIII, các thư tịch trước đó hiện chưa tra cứu được tục ăn thịt chó của người Việt. Ông Horcacs có viết trong sách “Một chiến dịch ở Bắc kỳ”. Tác giả là bác sĩ trong đội quân Pháp đánh thành Hà Nội vào cuối thế kỷ XIX. Horcacs viết chuyện khi ở Thăng Long – Hà Nội có kể bán thịt chó: “Năm 1883, tôi từ trong thành Hà Nội đi ra chợ Cửa Đông chơi, tôi thấy có quá nhiều người bày bán thịt chó, họ để cả con vàng ươm. Nó được mang từ ngoại ô vào…”.
Tác giả Tôn Thất Thọ viết trong bài “Thịt chó có phải món ăn truyền thống của người Việt” đăng trên Web nghiencuulich sư – This entry was posted on Tháng Sáu 8, 2017, in Kho tàng văn hóa and tagged âm thực, Tôn Thất Thọ, thịt cầy, thịt chó. Bookmark the permalink có nhận xét (lược trích):
“Khoảng thập niên 1930, Hà Nội chỉ mới có 4 hay 5 quán thịt chó. Trong khi đó ở Nam bộ Việt Nam không có quán nào, gần như không mấy người biết ăn. Nguyên nhân là vì miền Nam lệ thuộc nhiều vào văn hóa Pháp, họ rất thương chó, dĩ nhiên là họ có đủ mọi phương tiện luật pháp để ngăn cấm. (Nhưng cũng có thể là do chưa có ai bày cách làm thịt chó, nhất là cách dùng các thứ gia vị!). Cũng theo nhà văn này, ở trong Nam, tương tự như món phở, chỉ biết thưởng thức món thịt chó từ sau phong trào “di cư” 1954 của dân miền Bắc. Trước 1975, tại một vài xóm đạo, chợ Ông Tạ, giáo xứ Tân Hương ở Tân Bình và Thủ Đức… những “tông đồ” có thể tìm cho mình những thứ khoái khẩu, “nguyên zin” với cách pha chế được bê nguyên từ phương Bắc vào.
Như vậy có thể đoán là thịt chó chỉ phổ biến và thịnh hành trong dân gian ở miền Bắc vào khoảng thập niên 1910-1920. Thời điểm này trùng hợp với tình trạng chiến tranh và loạn sứ quân bên Trung Quốc sau Cách mạng Tân Hợi (1911), phải chăng sự thiếu thốn là lý do đầu tiên đưa đến việc nhiều người phải dùng đến món thịt chó như bên Trung Quốc, và từ đó mới phổ biến lan sang tới Việt Nam, Trung Quốc, thì thế nào cũng lan truyền qua Việt Nam theo đường biên giới. Điều này có thể kiểm chứng được bằng dữ kiện cho thấy, đa số cư dân ở các vùng ven biển từ Móng Cái – Lạng Sơn chạy dọc theo bờ biển về đến Hải Phòng đều biết ăn và làm thịt Cầy (có người cho rằng, từ Cầy có lẽ xuất phát từ chữ Cẩu nhưng được đọc âm khác đi vì kiêng cữ, sợ nói thành “thịt Cậu” chăng?)…”.
Như vậy, việc ăn thịt chó tại miền Bắc Việt Nam xuất hiện khi người Trung Quốc chạy sang cư ngụ ở Bắc bộ Việt Nam từ loạn Bạch Liên giáo ở Trung Quốc thời kỳ vua Gia Khánh (1796-1820) đến các triều đại Hàm Phong, Đồng trị Nhà Thanh đến loạn Thái Bình Thiên quốc, Thiên địa Hội, loạn Người Mèo và Giáo phái ở Quý Châu, lại còn có Hồng Hiệu, Thanh Hiệu, Bạch Hiệu,… mỗi cuộc biến loạn tập hợp được từ vài vạn đến hàng mấy chục vạn quân vì “ Dân thù quan binh hơn thù giặc” .
Theo cố Giáo sư Trần Quốc Vượng, cội nguồn ăn thịt chó bắt đầu từ lễ hiến tế chó trong tín ngưỡng dân gian. Kết quả khảo cứu thực tiễn hơn 37 năm lại cho thấy trong tất cả các Lễ hội dân gian cũng như thư tịch cổ ở miền Bắc Việt Nam chưa từng có mâm Lễ nào có món thịt chó, đến ngay mâm cúng giỗ Gia tiên cũng tuyệt đối không có thịt chó. Tra cứu các Giáo lý truyền kỳ mấy nghìn năm thì thịt chó là một trong các điều cấm kỵ của Đạo Thánh Mẫu Việt. Khi tra cứu về khảo sát Dân tộc học cũng như thư tịch cổ đều không rõ GS Trần Quốc Vượng căn cứ vào đâu để đưa ra nhận định như vậy? Sau này có nhiều báo chí, bài viết chỉ copy một cách vô thức, đã không đối chiếu khoa học cứ chép nguyên như vậy là một sai lầm tai hại.
Học giả Hoàng Xuân Hãn khi phát hiện sách cổ có ghi các món ăn xưa của người Việt được viết bằng chữ Nôm gọi là Cảo. Cảo ghi chép những món ăn cùng với cách làm các món ăn cách đây hơn 250 năm. Sách được viết vào khoảng đầu đời vua Cảnh Hưng nhà Lê (1744). Cảo ấy mang tên “Thực vật tất khảo tường kí lục”, nghĩa là “Sách ghi rõ những phép phải khảo khi làm các món ăn”. Nội dung sách cổ này không thấy đề cập gì đến món thịt chó. Theo Bách khoa Toàn thư mở Wikipedia, hiện nay vẫn có 11 vùng lãnh thổ trên thế giới ăn thịt chó, bao gồm: Trung Quốc, Indonesia, Hàn Quốc, México, Philippines, Polynesia, Đài Loan, Việt Nam, Bắc Cực, Nam Cực, và Thụy Sĩ. Hy vọng trong tương lai gần sẽ tìm thêm được những ghi chép cổ sử về thời gian, nguyên nhân xuất hiện tục ăn thịt chó ở miền Bắc Việt Nam được ghi trong thư tịch cổ của người Việt, của Trung Quốc hoặc của các nhà truyền giáo phương Tây hiện lưu giữ tại các thư viện nước ngoài.
Đến đây, tôi nhận thức rằng: “Lịch sử Dân tộc Việt rất coi trọng con chó, vì thế căn cứ vào Sử liệu thì tục ăn thịt chó mới chỉ xuất hiện ở miền Bắc Việt Nam khoảng những năm 1780 thế kỷ XVIII, do một bộ phận người Hán ở phía Nam Trung Quốc chạy loạn đưa vào”. Vì thế, đề xuất cấm mua bán, chế biến, ăn thịt chó, mèo của Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội là phục hồi truyền thống Nhân văn của Dân tộc Việt.
Hà Nội, ngày 12/9/2018
Vũ Ngọc Phương (Chủ tịch Trung ương Hội Khoa học phát triển nguồn Nhân lực Nhân tài Việt Nam) Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 517
Có thật ăn thịt chó là văn hoá, là phong tục tập quán của người Việt không? Ảnh minh họa: NLĐ
Hồi còn nhỏ, nhà tôi có con chó vàng đẹp như tranh. Một ngày biển động, trời mưa, bè mảng nằm bờ, mấy ông trong xóm đến hỏi mua để đánh đụng. Người ta lùa bắt, lấy đòn gánh đè lên cổ, trói giật cánh khỉ hai chân trước, lấy khúc cây ghè mõm, rồi treo con vàng lên cây cắt tiết trước khi mang xuống biển dìm cho đến chết...
Một cảm xúc rất tự nhiên, tôi thương con vàng, ghét những người đến bắt giết nó, và tự hỏi sao thày mẹ tôi lại nỡ bán nó? Tôi chui vào góc nhà ngồi khóc, nhớ lại hình ảnh con vàng gần gũi, thân thiết hàng ngày. Hôm đó nhà tôi được chia phần thịt, đến bữa tôi không đụng đũa.
Nhưng rồi lớn lên tôi lại ăn thịt chó. Những năm tháng đói kém, có khi cả năm trời mới đôi ba lần được biết đến miếng thịt. Khan hiếm từng cân gạo, mớ rau, con cá, miếng thịt, cơ thể con người thường trực háo chất đạm. Châu chấu, nhái bén, chuột đồng đều trở thành nguồn thực phẩm bổ sung dinh dưỡng cho cơ thể vốn đang thiếu hụt đủ đường, huống hồ con mèo con chó! Người ta nhìn con mèo, con chó không phải là người bạn thân thiết, thành viên trong một không gian gia đình, mà đơn giản chỉ là nguồn “vitamin gâu - gâu”, “vitamin meo - meo”, như cách gọi của nhiều người dân hồi ấy. Không hiếm nơi cứ dịp tết nhất, giỗ chạp, ma chay, cưới xin người ta lại giết chó. Có những nhóm người sùng bái “chủ nghĩa mộc tồn”, đến nỗi một tháng không được một bữa thịt chó thì thấy thiếu thiếu, bứt rứt trong người.
Cách đây hơn hai chục năm, hồi đang ở Tây Nguyên, một buổi chiều tôi được rủ đi ăn thịt chó. Tối đó tôi đau bụng, cả đêm không ngủ được. Rồi đêm sau, tôi mơ, bị đàn chó rượt đuổi. Bị dồn đuổi trên đường, tôi nhảy xuống hồ, đàn chó vẫn không buông tha. Không phải là những con chó bình thường, mà là hàng chục con chó bị thui loang lổ, răng trắng nhởn, kết thành thế trận hình vòng cung, lầm lũi nhe răng truy đuổi tôi. Khi tỉnh giấc, tim vẫn thình thịch, người đẫm mồ hôi. Những hình ảnh trong mơ khiến tôi liên tưởng tới bữa thịt chó và trận đau bụng hôm trước. Tôi đâm hãi. Hình như đó là thông điệp từ tiềm thức muốn lưu ý, nhắc nhở điều gì? Vạn vật hữu linh, biết đâu đấy...
Từ bấy đến giờ, tôi chưa bao giờ đụng đến miếng thịt chó.
Có người hỏi tôi, sao không ăn thịt chó. Tôi nói, có nhiều thứ để ăn, không nhất thiết phải thịt chó.
Mấy năm sau đó, thảng hoặc năm đôi ba lần, từ Tây Nguyên ra Hà Nội, tôi vẫn thường được anh em bạn bè rủ ra mạn đê Sông Hồng với vô vàn “Trần Mục” với “Anh Tú Béo”. Quả đúng là “liên hiệp các xí nghiệp thịt chó” với hàng hàng quán quán, xe xe cộ cộ, với công nghệ mờ mịt khói rơm, tưng bừng riềng sả, với tóc cua đầu hói, váy ngắn quần đùi...Khi mọi người rổn rang, đại loại “một chân chó, hai dồi chó mới vào” thì tôi rón rén xin đĩa đậu hay đĩa cá. Tôn trọng sự đa dạng và khác biệt, nhưng tôi vẫn được nhận cái liếc xéo, ra điều bày đặt...
Rồi không biết từ năm nào, tháng nào, “liên hiệp các xí nghiệp thịt chó” mạn Nghi Tàm như lửa rơm, bùng lên rất nhanh, rồi lụi. Tôi nghe có người bảo, quả báo đấy(!?) Tôi nghĩ, có nguyên nhân nào khác, như quy luật thị trường chẳng hạn, chứ quả báo quả bàng gì ở đây?!
Thảng hoặc, lâu lâu trên truyền thông nước nhà lại rộ câu chuyện, ở xứ người, người Việt ta vẫn nhớ món “cẩu nhục”, xem nó như “quốc hồn quốc tuý”, đến nỗi bất chấp luật lệ, phong tục nước người, giở thói anh hùng nhất khoảnh, trộm chó trộm mèo giết thịt. Nghe nói, một số quốc gia người ta trị cái tội ăn thịt chó thịt mèo rất nặng. Miếng thịt thành miếng nhục là vậy.
Khi thành phố Hà Nội dấy lên chủ trương vận động người dân Thủ đô không giết chó, không ăn thịt chó, có nhà xã hội học lên tiếng, rằng, ăn thịt chó là thói quen văn hoá, thành phong tục tập quán, khó mà xoá bỏ. Tôi đâm hoài nghi, ai ăn cứ ăn, nước mình nó thế, nhưng có thật ăn thịt chó là văn hoá, là phong tục tập quán của người Việt không? Khi bỏ thói quen giết chó và ăn thịt chó, có làm phương hại đến văn hoá hay phong tục tập quán cộng đồng không?
Có lần ở sân bay quốc tế Nội Bài, tôi chứng kiến cảnh mấy thanh niên mang theo nguyên một con chó thui. Họ nhìn trước ngó sau, lén lén lút lút rồi cố gói ghém, cất giấu trong túi hành lý, cốt sao cho qua cửa khẩu hải quan, an ninh. Tôi nghĩ, nếu sang bên kia, hải quan xứ người phát hiện ra trong túi hành lý của mấy thanh niên này cái món thực phẩm gọi là văn hóa, là “quốc hồn quốc tuý”, hình ảnh người Việt Nam trong mắt họ sẽ như thế nào nhỉ? Tôi nghĩ là dã man, hoang dại chứ chẳng có tí nét đẹp văn hoá văn minh gì ở đấy cả.
Tôi làm một cuộc điều tra nhỏ, hỏi nhanh một nhóm người trong cơ quan nơi tôi làm việc, anh/chị có ăn thịt chó không? Tất cả đều trả lời: không.
Những người tôi hỏi đều trả lời không ăn thịt chó, nhưng mỗi năm, theo kết quả điều tra của tổ chức Liên minh bảo vệ chó châu Á (ACPA), người Việt Nam giết và ăn thịt khoảng 5 triệu con chó. Hàng tháng người ta vận chuyển khoảng 20.000 con chó từ Nam ra Bắc tiêu thụ.
Có cầu tất có cung. Nhiều người hành nghề ăn trộm chó, báo chí gọi là cẩu tặc. Trong số họ nhiều người chết thảm, nhiều người tàn phế.
Đó là chia sẻ của ông N.V.C, chủ một lò mổ chó ở làng Cao Hạ (xã Đức Giang, Hoài Đức, Hà Nội) với báo Đất Việt ngày 12/9.
"Thịt chó gắn bó với người dân miền Bắc đặc biệt là dân Hà Nội từ xa xưa làm sao có thể nói bỏ là bỏ được. Người ta rủ nhau đi uống rượu thịt chó chứ ai rủ nhau uống rượu thịt gà.
Chỉ mới nghe qua tôi đã thấy không được rồi, làm gì cũng phải dựa vào dân chứ, đến sở thích ăn uống cũng bị cấm như này thì sao thoải mái được. Người dân còn muốn ăn mà cấm thì chưa hợp lý", ông C nói.
Theo ông C, thịt chó không gây độc hại như những loài động vật khác bởi hàm lượng kích thích có trong người chó gần như không có. Từ trước đến nay ông và nhiều lò mổ chó khác trong làng Cao Hạ thường nhập chó được nuôi dân dã ở miền Nam về làm.
"Thịt chó thường là món ăn chính của những người dân vùng quê Hà Nội khi nhà có cỗ, còn thịt gà, thịt bò chỉ là món ăn bổ sung cho mâm cỗ đầy hơn. Cỗ có thịt chó thì thịt gà, thịt bò ế hết, không ai muốn ăn bởi vậy, giờ bảo bỏ thịt chó thì ăn món gì. Hơn nữa, người dân nuôi chó khôn cũng chỉ cần giữ 1 con trông nhà chứ để nhiều chó trong nhà mới sinh bệnh về đường hô hấp vì lông chó, mèo", ông C cho biết thêm.
Cũng chia sẻ thêm về việc này, cùng ngày, chị L.T.L (45 tuổi, chủ 1 quán thịt chó ở huyện Thanh Oai, Hà Nội) cho rằng, chị đã mất ăn mất ngủ mấy ngày nay khi biết thông tin Hà Nội đang muốn người dân bỏ thói quen ăn thịt chó.
"Tôi thực sự không hiểu tại sao lại có 1 khuyến cáo như vậy? Ăn thịt chó thì làm sao, không văn minh, phản cảm thế nào? Chỉ vì hình thức muốn gây dựng hình ảnh đẹp với du khách quốc tế để bắt người dân bỏ cả thói quen ăn uống từ xa xưa như vậy liệu có văn minh và lịch sự hơn với chính dân mình không?", chị L bức xúc.
Trước đó, ngày 10/9, UBND TP Hà Nội có văn bản khuyến cáo người dân từ bỏ thói quen ăn thịt chó, mèo.
Theo đó, TP giao UBND các quận huyện cập nhật thông tin và lập sổ quản lý về chó nuôi trên địa bàn, tổ chức ký cam kết thực hiện việc khai báo nuôi chó, mèo và chấp hành đúng các quy định về phòng, chống dịch bệnh, đặc biệt đối với bệnh dại.
Các địa phương phải tiêm phòng triệt để cho đàn chó, mèo trong diện phải tiêm và cấp giấy chứng nhận tiêm phòng theo quy định. Khuyến khích việc đeo thẻ nhận diện chó, mèo đã được tiêm phòng dại.
Thành phố yêu cầu các đơn vị liên quan tuyên truyền để người dân nhận thức được và từ bỏ thói quen ăn thịt chó, mèo.
Điều đáng nói, theo UBND TP Hà Nội, việc kinh doanh, giết mổ và sử dụng thịt chó, mèo đã tạo ra những phản cảm đối với khách tham quan du lịch, du khách quốc tế sinh sống, làm việc tại Hà Nội, làm ảnh hưởng đến hình ảnh của một thủ đô văn minh, hiện đại.
Ngoài ra còn tiềm ẩn nguy cơ mắc các bệnh truyền nhiễm như bệnh dại, bệnh xoắn khuẩn, bệnh tả... cho các đối tượng tham gia quá trình kinh doanh, giết mổ và sử dụng thịt chó, mèo.
Trong tập sách Món ngon Hà Nội, khi đề cập món thịt chó, nhà văn Vũ Bằng đã viết:
“Ngả con cầy ra đánh chén! “Sống ở trên đời, ăn miếng dồi chó, chết xuống âm phủ biết có hay không?”.
Thôi thì được ngày nào hãy cứ biết chiều ông thần khẩu ngày ấy đã, sau ra sao sẽ liệu. Ấy thế mà chưa biết chừng ăn một bữa cầy vào, cái vận mình nó lại chuyển hung thành cát, chuyển đen thành đỏ thì lại càng hay, chớ có sao đâu?
Thật vậy, thịt cầy ở nước ta không phải là một món ăn như thịt dê, thịt lợn, nhưng nó lại còn là một niềm tin tưởng trong dân gian nữa.
Vận đương xúi quẩy, ăn một bữa thịt chó vào, người ta rất có hy vọng giải đen. Đánh bạc thua liền ba đêm, này! Ăn một bữa thịt chó, có người gỡ lại hết cả tiền thua, mà lại còn được thêm là khác. Thử hỏi trong tất cả các món ăn trên thế giới có món ăn nào khả dĩ lại di chuyển được vận hạn của con người đến thế hay không?
Nhưng dẫu sao, chuyện di chuyển vận hạn cũng là chuyện của tương lai huyền bí. Nói ngay chuyện thiết thực ở trước mắt mà chơi.”
Trên website MonngonHanoi.com, một bài viết có đoạn với nội dung tương tự:
“Trước tiên đó là thói quen “giải đen” cuối tháng bằng thịt chó. Người Việt kiêng không bao giờ ăn thịt chó vào ngày đầu năm, đầu tháng, song họ tin rằng ăn thịt chó vào những ngày cuối năm, cuối tháng lại có thể xua đi vận đen đủi, “rửa sạch” rủi ro để bước sang năm mới may mắn hơn. Sang đến đầu tháng người ta thường ăn những món ăn như tiết canh với màu đỏ của huyết hi vọng cả tháng sẽ gặp nhiều điềm lành.
Thế mới nói, niềm tin về thực phẩm may mắn không chỉ dừng lại ở những món ăn may mắn đó còn là những món ăn giúp xua đi vận hạn, rủi ro. Xét ở khía cạnh nào đó, việc người Việt đi đêm thường mang theo mình nhánh tỏi, cành dâu cũng là từ triết lý đó mà ra. Họ tin rằng nhánh tỏi, cành dâu đó sẽ giúp họ xua đi quỷ dữ, tà ma và mọi điều xấu xa trong đêm tối nhanh chóng đi đến ánh sáng để đón nhận điều tốt đẹp.”
Bài viết này có mục đích tìm hiểu người Việt bắt đầu nuôi chó và biết ăn thịt chó từ lúc nào mà lại có “tính triết lý”đến như thế !?
Cách đây vài năm, học giả Hoàng Xuân Hãn đã phát hiện một tập sách ghi các món ăn xưa của người Việt mà ông gọi là cảo được viết bằng chữ Nôm. Cảo ghi chép những món ăn cách đây hơn 250 năm cùng với cách làm. Cảo ấy mang tên “Thực vật tất khảo tường kí lục”, nghĩa là “Tập ghi rõ ràng những phép phải khảo khi làm các món ăn”. Các điều ghi lại trong cảo nầy theo các thời điểm cho ta biết cảo được chép vào khoảng đầu đời vua Cảnh Hưng nhà Lê (1744). Nội dung sách cổ này không thấy đề cập gì đến món thịt chó !
Như thế có thể nói rằng: thịt chó không phải là món ăn truyền thống của người Việt, vì thế việc kiêng cữ ăn thịt chó trong những thời điểm nhất định chắc chắn là do đệ tử của món cờ tây sau này đặt ra mà thôi !
Theo lời một nhà văn tiền chiến, vào khoảng thập niên 1930, Hà Nội chỉ mới có 4 hay 5 quán thịt chó. Trong khi đó ở miền Nam chưa có quán nào cả và cũng rất ít người biết ăn. Lý do là vì miền Nam lệ thuộc nhiều vào văn hóa Pháp, họ rất thương chó, và dĩ nhiên là họ có đủ mọi phương tiện luật pháp để ngăn cấm. (Nhưng cũng có thể là do chưa có ai bày cách làm thịt chó, nhất là cách dùng các thứ gia vị!). Cũng theo nhà văn này, ở trong Nam, tương tự như món Phở, chỉ biết thưởng thức món thịt chó từ sau phong trào “di cư” 1954 của dân miền Bắc.
Như vậy có thể đoán là thịt chó chỉ phổ biến và thịnh hành trong dân gian ở miền Bắc vào khoảng thập niên 1910-1920. Thời điểm này trùng hợp với tình trạng chiến tranh và loạn sứ quân bên Trung Quốc sau Cách mạng Tân Hợi (1911), phải chăng sự thiếu thốn là lý do đầu tiên đưa đến việc nhiều người phải dùng đến món thịt chó như bên Trung Quốc, và từ đó mới phổ biến lan sang tới Việt Nam, vì theo địa lý nhân văn về chuyện ăn uống, món gì thịnh hành tại các tỉnh láng giềng thuộc miền nam Trung Quốc, thì thế nào cũng lan truyền qua Việt Nam theo đường biên giới. Điều này có thể kiểm chứng được bằng dữ kiện cho thấy, đa số cư dân ở các vùng ven biển từ Móng Cái- Lạng Sơn chạy dọc theo bờ biển về đến Hải Phòng đều biết ăn và làm thịt Cầy ( có người cho rằng, từ Cầy có lẽ xuất phát từ chữ Cẩu nhưng được đọc âm khác đi vì kiêng cữ, sợ nói thành “thịt Cậu” chăng ?)
Nhiều cư dân tại Sài Gòn cũ cho biết: những quán thịt chó chỉ xuất hiện lần đầu tiên tại Sài Gòn là vào những năm 30-40 của thế kỷ trước, và cũng chỉ bó hẹp trong cộng đồng những người Bắc vào Nam lập nghiệp. Trước 1975, tại một vài xóm đạo, chợ Ông Tạ, giáo xứ Tân Hương ở Tân Bình và Thủ Đức,… những “tông đồ” có thể tìm cho mình những thứ khoái khẩu, “nguyên zin” với cách pha chế được bê nguyên từ phương Bắc vào.
Về việc nuôi chó, theo nhiều tài liệu thì người Việt nuôi chó từ rất lâu,có người cho là từ thời các vua Hùng, nhưng chắc chắn không phải để ăn thịt. Nhưng có lẽ vì giống chó sinh sôi nẩy nở quá nhanh nên mới xãy ra tình trạng “lạm phát” chó, rồi lan tràn sinh sản ở khắp nơi. Và có lẽ vì thế mới phát sinh ra cái món ăn thịt chó phổ biến ngày càng rộng rãi.
Một lập luận khác có phần chính xác hơn để giải thích lý do tại sao loài chó nhà phát triển mau lẹ ở nước ta từ khi người Âu châu sang giao thương buôn bán.
Theo nhiều sử liệu, thật sự các giống chó nhà được huấn luyện thuần thục đã theo chân các nhà truyền giáo và thủy thủ người Âu trên các thương thuyền cập bến vào Trung Quốc và Việt Nam từ thế kỷ XVII, đó là thời kỳ Trịnh- Nguyễn phân tranh. Nhưng dânViệt thời bấy giờ còn quá nghèo đói, miếng ăn còn chưa có thì còn đâu cho chó ăn. Riêng với giới quan lại hay nhà Nho thời bấy giờ vì do ảnh hưởng Trung Hoa từ văn hóa Khổng-Mạnh, chuyện nuôi chó trong nhà không phù hợp với phong tục dân gian, nên đã không có cơ hội tồn tại được. Khách đến nhà mà bị chó sủa hay nhảy chồm vào người, thì chắc bị coi là “đại thất lễ”, xúc phạm khó tha thứ được đối với những người được giáo dục từ cửa Khổng sân Trình. Chưa nói đến chuyện chó có tật làm bậy, nhất là phóng uế bừa bãi!
Do đó, có thể nói rằng các giống chó nhà sau này, phần lớn đều có xuất xứ từ nước ngoài đem vào, và chỉ phát triển vào khoảng ba, bốn trăm năm nay.
Về phương diện văn chương bình dân, trong tác phẩm Lục súc tranh công (khuyết danh) viết bằng chữ Nôm, xuất hiện khoảng đầu TK XX, con chó có mặt để nói về công trạng của mình:
“Đêm năm canh con mắt như chong:
Đứa đạo tặc nép oai khủng động.
Ngày sáu khắc, lỗ tai bằng trống,
Đứa gian tham thấy bóng cũng kinh.
Lại đến ngày kỵ lạp tiên sinh,
Cũng ra sức săn chồn, đuổi sóc.
Bao quản chui gai, lước góc,
Chi này múa mỏ, lòn hang…”
“Khi sống thì giữ gìn của đời,
Khi thác xuống giữ cầu âm giái,
Người có phước, muông đưa ra khỏi,
Ai vô nhân, qua chẳng đặng đâu!
Chủ có lòng suy trước, xét sau,
Khi lâm tử gạo tiền tống táng.
Chủ đã có công dày ngãi rộng,
Muông dễ không tiếp rước đãi đưa…”
Trong 6 con này chỉ có chó là sống gần người nhất (ngay trong nhà), biểu lộ tình cảm rõ nhất, khôn nhất và trung thành bậc nhất, nên chó được thương nhất là điều dễ hiểu. Mấy con kia thì vì bắt buộc chúng mới làm chớ không phải như chó: thương chủ, trung thành và bảo vệ chủ.
Trước thời điểm ra đời của Lục súc tranh công, có lẽ dân Việt chỉ biết chó qua văn chương Hán học. chữ “Cẩu” đầu tiên xuất hiện trong bài thơ tả cảnh hai ông quan chữi nhau của Cao Bá Quát làm vào thời vua Tự Đức (1847-1883). Các danh từ về chó có trong thơ văn như Khuyễn mã hay Sài lang, là nói về các loài Chó Sói (Wolf) hay Khuyễn (Hyena) hung dữ, xấu xí đáng ghét, không phải là loài chó nhà hiền lành thông minh và đẹp như sau này. Trong các sách truyện đời xưa, khi dùng từ “quân cẩu trệ” là muốn ám chỉ sự nhục mạ đối tượng. Đó là bằng chứng văn hóa Á châu rất ghét, nếu không nói là khinh bỉ loài chó!.
Một thực tế không ai phủ nhận, chó nhà là loài thú thông minh nhất trong các giống thú vật kể cả các loài khỉ vượn. Loài chó nhà khôn như thế nào thì hầu như ai cũng đã từng biết hay nghe thấy rồi. Nhưng đặc biệt là khả năng đánh hơi cùng với một trí nhớ về mùi rất nhạy vượt xa hơn cả con người. Trong rất nhiều trường hợp, người chủ cũ đi xa vài năm trở về, chó vẫn nhận ra ngay nhờ đánh hơi và nhớ được mùi, trước cả khi người trong nhà nhận diện ra khách quen!
Kế đến, như đã nói về nguồn gốc, trải qua cả ngàn năm hay hàng trăm thế hệ được sống chung với người, trong từng tế bào di truyền của các loài chó nhà đã được khắc ghi hình ảnh và mùi riêng. Con người đối với loài chó nhà, vừa là sinh vật sống chung đáng tin cậy, mà cũng là ân nhân nuôi dưỡng hay cho ăn. Những loại chó nhà hầu như đều mất hết khả năng săn mồi hay tự kiếm ăn, và chắc sẽ chết sau một thời gian nếu không có ai nuôi cho ăn. Đã có nhiều trường hợp nói về chó trung thành xãy ra khi người chủ qua đời. Do chó đánh hơi được mùi riêng của thân xác người chủ, hay áo quần tẩm liệm trong quan tài, nên theo ra nghĩa địa nằm chờ cho ăn (thường là chó già đã theo chủ lâu năm, yếu đuối và bệnh tật), và không may là bị đói lạnh rồi kiệt sức chết luôn theo chủ!
Có lẽ đó là lý do chính mà đa số người Việt đã không ăn thịt chó. Hiện nay, trên thế giới chỉ có Việt Nam và 2 nước khác (Trung Quốc và Hàn Quốc) coi thịt chó là món ăn được bày bán công khai ở khắp mọi nẻo đường…!
Truyền thống thịt chó: Tại sao người Việt phải cãi nhau?
25/02/2014 05:00 GMT+7
- Tranh cãi bùng nổ giữa phe khoái món mộc tồn - thịt chó với những người quan niệm chó là vật trung thành, là bạn thân thiết với con người, gần đây lại bùng nổ. Song, kết cục bất phân thắng bại.
Sự việc được xới lại khi Liên minh Bảo vệ Chó châu Á (ACPA) công bố thông tin mỗi năm có khoảng 5 triệu cá thể chó bị giết tại Việt Nam để phục vụ nhu cầu thịt của con người.
Do ngành "công nghiệp thịt chó" phát triển, chó nuôi không đáp ứng đủ, người ta còn nhập khẩu bất hợp pháp chó từ Thái Lan, Lào... để chiều lòng thực khách. Tình trạng buôn lậu chó gia tăng khiến tổ chức này ngày càng lo ngại về mức độ tàn bạo của con người với động vật nuôi và đẩy dịch bệnh lây lan.
Tuy nhiên, chó là món khoái khẩu có từ lâu đời ở Việt Nam, và thực tế, xu hướng gắn bó, coi chó như vật nuôi thân thiết mới xuất hiện gần đây khi chúng ta hội nhập. Thế nên, tranh cãi giữa một bên ủng hộ việc ăn thịt chó, "sống ở trên đời phải ăn miếng dồi chó", và chó cũng chỉ là động vật cung cấp thịt với một bên khăng khăng bảo vệ quan điểm coi chó là người bạn thân thiết, con vật trung thành, đừng có lăm le giết thịt,... đã bùng nổ. Song, "cuộc chiến" này xem ra còn lâu còn dài.
Thực tế, khảo sát trên báo Thanh niên mới đây cho thấy, trong hơn 2.200 ý kiến độc giả được hỏi, thì tỷ lệ những người ủng hộ và người phản đối việc ăn thịt chó gần như ngang nhau: 50,4%-49,6% (có - không). Thế mới biết, chó và món ăn liên quan đến con vật này luôn là đề tài nóng hổi, được quan tâm thế nào.
Biết là mỗi người có lý lẽ để bảo vệ quan điểm của mình, nhưng câu chuyện về việc một Hòa thượng ở Quảng Trị mới đây khuyên người ăn thịt chó "hãy ngửa mặt lên trời và thề nguyện với trời đất không bao giờ ăn thịt chó nữa" và sau đó nhấc chậu cây để kiểm chứng về phúc - đức để lại khiến nhiều người phải ngẫm nghĩ: liệu một Phật tử liệu có nên ăn thịt chó hay không khi nó không chỉ là bạn mà quan trọng hơn khi nhìn nhận ở góc độ an toàn vệ sinh thực phẩm, nó đã ăn những thứ gì vào bụng?.
Chưa hết, việc thường xuyên giết mổ chó cũng khiến những người làm nghề này sợ hãi bị nghiệp sát sinh đeo bám. Phải chăng vì thế mà phố thịt chó nổi tiếng Nhật Tân ở Hà Nội, với hơn 50 địa chỉ, nay bơ vơ sót lại một vài quán?
Xin gửi tới độc giả các bài viết liên quan để cùng suy ngẫm:
"Vậy những người nuôi sẽ an táng chúng cách nào? Chôn, hỏa táng hay thủy táng như các bạn Ấn Độ làm với bò? Hay vứt vào đống rác? Sao lại từ chối cách ít tốn kém nhất là “khẩu táng” kèm với riềng và lá mơ?".
Nhắc tới Nhật Tân, Vân Đình (Hà Nội) tới Việt Trì (Phú Thọ)... , dân khoái khẩu nghĩ ngay tới thịt chó. Đã từ lâu, những địa danh này đã trở thành thương hiệu kinh doanh thịt chó đất Bắc.
Mỗi năm, người Việt ăn 5 triệu con chó, 5 tỷ gói mì tôm và uống 3 tỷ lít bia đây đều là những con số cho thấy lượng tiêu thụ thịt chó, mì tôm, bia của Việt Nam nằm trong top đầu thế giới.
Theo các nhà hoạt động bảo vệ động vật thì hàng năm có đến 200.000 con chó sống được buôn lậu từ Đông Bắc Thái Lan thông qua các ngả đường để về Việt Nam.
Trong sơ chế và chế biến thịt chó, nhiều nơi sử dụng hóa chất “tẩy rửa” khiến chúng trông “trắng nõn” và nó còn hấp dẫn hơn khi dùng phụ gia không rõ nguồn gốc.