Huyện đảo Hoàng Sa hiện nay
25.04.2009 22:47

Hải quân TQ xây nhà trồng cây và thu hút du khách họ quảng cáo "Thiên Đường Nam Hải "
Giới trẻ nghiên cứu về tranh chấp biển Đông Pháp Luật TPHCM online. 24-04-2009 23:27:23 GMT +7 TS Nguyễn Nhã bắt tay tác giả Vương Quốc Khanh tại buổi bảo vệ luận văn thạc sĩ. Ảnh: LĐ (PL)- Hôm qua (24-4), học viên cao học khoa Lịch sử, Trường ĐH KHXH&NV TP.HCM Vương Quốc Khanh đã bảo vệ thành công luận văn thạc sĩ với đề tài “Tranh chấp quần đảo Trường Sa giữa Việt Nam và các bên liên quan từ năm 1909 đến nay”. Với nghiên cứu này, tác giả đã xâu chuỗi lại toàn bộ quá trình tranh chấp, nói lên tính chất tranh chấp cũng như hoàn cảnh lịch sử của từng thời kỳ tranh chấp trong giai đoạn lịch sử từ năm 1909 đến nay. Tác giả nhấn mạnh chẳng phải chỉ có tài liệu của Việt Nam mà còn có những tài liệu rất cụ thể của phương Tây như Gutzlaff (1849), Taberd (1837), Dubois de Jancigny (1850) đều xác lập chủ quyền của nhà nước Việt Nam thời Nguyễn đối với quần đảo này. Dựa vào những quy định pháp lý quốc tế, tác giả cũng đã phân tích sự xác lập và tiếp tục (thực thi) chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa. Chuyên gia về biển đảo - TS Nguyễn Nhã đánh giá luận văn này chưa thật chuyên sâu nhưng nó là “hành động rất cụ thể của giới trẻ trước tình trạng thiếu cân sức về nghiên cứu tranh chấp biển Đông”. Theo ông Nhã, giải pháp cụ thể trong việc này tất nhiên phải dựa vào công pháp quốc tế và ngoại giao quốc tế của Việt Nam. Chia sẻ thêm về hành động của giới trẻ nước nhà với lịch sử, TS Nguyễn Nhã nói: “Tôi đang chờ đợi những nhà nghiên cứu trẻ càng ngày càng đông, có khả năng nghiên cứu và tìm ra sự thật của tranh chấp biển Đông và những giải pháp. Biết đâu các bạn không chỉ là người học sử, nghiên cứu sử mà còn làm nên lịch sử”. Phát hiện mới từ tờ lệnh của tộc họ Đặng: Thêm nhiều bằng chứng về “hùng binh Hoàng Sa” Tuổi Trẻ Nghiên cứu tờ lệnh cổ mà tộc họ Đặng ở xã An Hải, huyện Lý Sơn (Quảng Ngãi) đã hiến tặng cho quốc gia, các nhà khoa học phát hiện thêm nhiều bằng chứng mới về chủ quyền VN trên biển Đông. Tiến sĩ Nguyễn Đăng Vũ, phó giám đốc Sở Văn hóa - thể thao và du lịch Quảng Ngãi, cho biết: - Sự chỉ đạo thống nhất từ trung ương tới địa phương về việc đi Hoàng Sa - Trường Sa thể hiện rõ ngay ở dòng đầu của văn bản cổ này. Đó là việc quan bố chánh và án sát Quảng Ngãi vâng lệnh Bộ Binh và Bộ Hình cấp bằng cho những người đi Hoàng Sa - tức việc thực thi mệnh lệnh của nhà nước. Vào năm Minh Mạng thứ 13 (1832), Quảng Ngãi mới chính thức thành lập. Nhiều năm sau đó, Quảng Ngãi cũng như nhiều tỉnh đều chưa có quan tuần phủ. Bố chánh Quảng Ngãi 1834 là Lê Nguyên Trung, rồi sau đó là Trương Văn Uyển, 1835 là Tôn Thất Bạch. Án sát Quảng Ngãi 1834 là Nguyễn Đức Hội và1835 là Đặng Kim Giám. Khi cần ban một quyết định cơ mật, cả quan bố chánh và án sát cần phải thống nhất. Quy định đó được ghi trong Đại Nam thực lục của Quốc sử quán triều Nguyễn và châu bản. Do vậy, trong văn bản cổ này chỉ có ấn triện của quan án sát lẫn quan bố chánh là hoàn toàn đúng theo quy định của nhà nước phong kiến lúc bấy giờ. * Văn bản quý do tộc họ Đặng gìn giữ có mối quan hệ như thế nào với hải đội Hoàng Sa - Bắc Hải trong những năm sau đó, thưa ông ? - Trong văn bản cổ của dòng họ Đặng ghi cụ thể về thời gian ấn định để các thủy thủ đi Hoàng Sa: cứ vào hạ tuần tháng ba hằng năm thì thuận thời tiết mà đi. Các bộ chính sử và châu bản triều Nguyễn cũng ghi rõ những chuyến đi Hoàng Sa vào các năm từ 1834-1838 với những tên tuổi cai đội, đội trưởng, chánh đội trưởng như: Trương Phúc Sĩ, Phạm Văn Nguyên, Phạm Hữu Nhật, Phạm Văn Biện; các hướng dẫn viên đường thủy như Võ Văn Hùng, Phạm Văn Sanh; các viên giám thành vẽ họa đồ Hoàng Sa là Trần Văn Vân, Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Văn Hoàng... Tên tuổi họ đã lưu trong sử sách, trong đó có năm những người đi Hoàng Sa đo vẽ bản đồ chưa thật sự hoàn thiện, lại về chậm trễ nên mỗi người bị phạt 80 trượng như chuyến đi Hoàng Sa năm Minh Mạng thứ 16 (1835). * Thưa ông, dựa vào những bộ chính sử triều Nguyễn thì văn bản cổ do tộc họ Đặng ở Lý Sơn gìn giữ có ý nghĩa như thế nào về việc xác lập tên tuổi những người đã đến Hoàng Sa ? - Có thể nói văn bản cổ quý giá của dòng họ Đặng lưu giữ 175 năm qua không chỉ góp phần bổ sung cho những điều ghi trong chính sử, châu bản của triều Nguyễn mà còn xác lập thêm một số danh tánh của những “hùng binh Hoàng Sa” như cách gọi của vua Tự Đức. Trong văn bản cổ của tộc họ Đặng có ghi: Võ Văn Hùng giỏi việc đi thuyền, rành rẽ hải phận, là người đã được cử đi từ năm trước (1833) nên lần này (1834) lại được tiếp tục giao nhiệm vụ tuyển chọn thêm những binh phu am hiểu hải trình, đưa các phái viên ở kinh thành, biền binh, thủy quân thẳng tiến ra đảo Hoàng Sa. Nếu so sánh các bộ chính sử của triều Nguyễn, vào năm Minh Mạng thứ 16, chuyến đi Hoàng Sa về chậm trễ, cai đội Phạm Văn Nguyên và các viên giám thành đều bị phạt, nhưng Võ Văn Hùng và Phạm Văn Sanh là những người có công, tận tâm đo đạc hải trình nên được thưởng; các dân phu hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định cùng đi cũng được thưởng mỗi người một quan tiền. Đến năm Minh Mạng thứ 18 (1837), chính Võ Văn Hùng, Phạm Văn Sanh cùng thủy sư suất đội Phạm Văn Biện - người chỉ huy chuyến đi Hoàng Sa lần này - do khởi hành chậm trễ nên lại bị phạt. Quân lệnh nghiêm minh, thưởng phạt rõ ràng. Thời ấy sứ mệnh đi Hoàng Sa lẫn Trường Sa là một nhiệm vụ cực kỳ quan yếu như đã có ghi trong văn bản cổ của tộc họ Đặng ở Lý Sơn. MINH THU thực hiện Nhớ Hoàng Sa Ông Nguyễn Văn Đức - “đảo trưởng” đợt thứ 38 (từ tháng 10-1969 đến tháng 2-1970) - chìa cho chúng tôi xem tấm sự vụ lệnh màu giấy ố vàng bởi đã qua gần 40 năm cất giữ. Người đàn ông với mái tóc đã ngả sang màu muối tiêu trầm ngâm: “Tôi giữ tấm giấy này như một kỷ vật về Hoàng Sa. Vùng đất mà tôi chỉ ở có ba tháng lúc còn trai trẻ, đến bây giờ đã gần thất thập nhưng những gì diễn ra trong thời gian ở đó vẫn hiển hiện trong tôi như mới hôm qua, hôm kia”. Ông Đức nhớ lại: “Lúc đó tôi mới tròn 22 tuổi. Cùng đi với tôi còn có 34 người được biên chế thành một trung đội. Tàu xuất phát lúc 20g hôm trước từ cảng Tiên Sa, đến 16g ngày hôm sau thì đến Hoàng Sa. Do gần bờ có nhiều rạn san hô, tàu lớn không cập bờ được nên chúng tôi phải di chuyển lên đảo bằng canô”. Theo lời ông Đức, trong chuyến tàu ra đảo năm ấy, nhóm ông còn mang theo 30 con gà, 30 con vịt, hai con heo. Ngày đầu tiên đặt chân lên đảo, họ làm thịt con heo lớn cúng đảo, rồi lấy thịt ướp để dành ăn dần. Ông Đức chậm rãi kể: trên đảo có một tòa nhà lớn (dành cho đảo trưởng) cao khoảng 8m, tường rất dày, có trang bị hai khẩu đại liên 50mm. Trong phòng làm việc của đảo trưởng ở tòa nhà này có một bức tường ghi tên tất cả những người lính ra giữ đảo. Hai ngôi nhà khác được xây kiên cố cho các tốp lính, kho chứa quân trang, quân dụng và lương thực, thực phẩm. Trên đảo có máy phát điện dùng dầu, chỉ chạy vào chiều tối và khi cần thiết. Có một nhà kho chứa lương thực dự trữ đủ dùng cho một trung đội trong một năm. Ông Đức nói rằng thời tiết ở Hoàng Sa bình thường rất dễ chịu nhưng mùa mưa hay có bão biển nên các ngôi nhà trên đảo đều được xây rất kiên cố. Mỗi khi có gió mạnh, hễ đi tuần tra trên đảo thì phải chọn hướng đi cùng chiều, nếu không rất dễ bị gió quật ngã xuống biển. “Tụi tôi sống với nhau rất hòa thuận, như anh em một nhà. Mấy anh bên khí tượng cũng vậy. Xa đất liền, xa gia đình biền biệt suốt ba tháng liền không thư từ, tin tức nên anh em gắn bó với nhau lắm. Hồi ấy tôi còn trẻ, chưa bận bịu chuyện gia đình nhưng rất nhớ Sài Gòn. Vậy mà về Sài Gòn thì lại nhớ lúc ở Hoàng Sa” - ông Đức tâm sự. KIM EM - ĐĂNG NAM
Bổ nhiệm chủ tịch huyện cho quần đảo Hoàng Sa Thanh Phương RFI Bài đăng ngày 25/04/2009 Cập nhật lần cuối ngày 25/04/2009 13:31 TU Ngày 25.04.09, Uỷ ban nhân dân thành phố Đà Nẵng chính thức bổ nhiệm ông Đặng Công Ngữ, Giám đốc Sở Nội vụ làm chủ tịch huyện đảo Hoàng Sa, một quần đảo mà Trung Quốc đã chiếm giữ từ năm 1974 sau một trận hải chiến với Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa. Cho tới nay, mỗi khi Trung Quốc có những hành động xâm phạm chủ quyền ở biển Đông, hầu như chỉ duy nhất có phát ngôn viên Bộ Ngoại giao lên tiếng phản đối. Việc bổ nhiệm chức vụ chủ tịch huyện đảo dường như là bước cụ thể đầu tiên để Việt Nam khẳng định trở lại chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa, sau nhiều năm vấn đề này vẫn là chủ đề cấm kỵ trên báo chí. Thật ra thì chức chủ tịch huyện đảo chỉ là trên giấy tờ vì Hoàng Sa đang nằm trong tay Trung Quốc. Trụ sở của chính quyền huyện Hoàng Sa hiện vẫn phải đặt tại Sở Nội Vụ Đà Nẵng. Trước mắt, theo lời tân chủ tịch huyện Đặng Công Ngữ, công việc của họ chủ yếu là tuyên truyền, giáo dục để mọi người dân hiểu biết thêm về Hoàng Sa, khẳng định Hoàng Sa là của Việt Nam. Để làm được việc này, chính quyền Hoàng Sa sẽ thu thập các thông tin, tư liệu làm bằng chứng về chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa. Cũng theo chiều hướng đó, chính quyền Đà Nẵng đã đặt cho nhà nghiên cứu Nguyễn Phước Tương viết một cuốn sách về Hoàng Sa. Theo tờ Tuổi Trẻ, cuốn sách mang tên ''Quần đảo Hoàng Sa không thể nhượng quyền của Việt Nam'' dự kiến được xuất bản vào tháng tới. Thật ra, ông Nguyễn Phước Tương, đã ấp ủ ý định viết cuốn sách này từ lâu và từ 10 năm qua ông đã miệt mài thu thập khoảng 150 tài liệu chứng minh Hoàng Sa là của Việt Nam từ thời chúa Nguyễn. Nhưng nay, cuốn sách này mới có dịp ra mắt công chúng. Về cấp độ quốc gia, Bộ ngoại giao Việt Nam gần đây đã làm lễ tiếp nhận tờ lệnh quý về Hoàng Sa mà tộc họ Đặng ở thôn Đồng Hộ, xã An Hải, huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi đã nối tiếp nhau gìn giữ từ suốt 175 năm qua. Bên cạnh đó, có một sự kiện đáng chú ý đó là ngày 22/4 vừa qua, lần đầu tiên, một phái đoàn của quân đội Việt Nam đã lên tham quan một hàng không mẫu hạm của Mỹ, đó là chiếc USS John C. Stennis, đậu trên biển Đông. Hãng tin Reuters trích lời một phát ngôn viên Đại sứ quán Mỹ cho biết là phía Việt Nam đã xin tham quan hàng không mẫu hạng Mỹ từ lâu và chuyến tham quan này đã được sắp xếp từ nhiều tháng trước. Nhưng có có lẽ do trùng hợp về thời điểm, chuyến tham quan diễn ra ngay đúng vào lúc Trung Quốc đang chuẩn bị biểu dương lực lượng nhân kỷ niệm 60 năm thành lập binh chủng Hải quân. Nhưng có điều, chính quyền Hà Nội hiện vẫn còn rất e dè trước láng giềng phương Bắc và vẫn không ngần ngại dập tắt những tiếng nói từ người dân phản đối Bắc Kinh xâm phạm chủ quyền. Bằng chứng là Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam gần đây ra ra lệnh đình bản tờ Du Lịch trong ba tháng, vì tờ báo này bị coi là đã có ''sai phạm nghiêm trọng'' về luật Báo chí. Các lãnh đạo của báo Du Lịch bị coi là ''đã không chấp hành sự chỉ đạo đối với các thông tin quan trọng, phức tạp và nhạy cảm''. Lý do là vì trong số báo Tết Kỷ Sửu 2009, tuần báo của Tổng cục Du Lịch đã đăng các bài viết ủng hộ những người đã xuống đường biểu tình phản đối Trung Quốc ở Hà Nội và Sài Gòn vào cuối năm 2007 đầu năm 2008. Phản ứng về quyết định đình bản, Phó tổng biên tập báo Du Lịch, ông Nguyễn Trung Dân đã khẳng định là tờ báo của ông không hề có sai phạm. Theo ông, động viên lòng yêu nước của người dân là việc rất đáng làm. Đọc qua báo chí Việt Nam hiện nay, hầu như chỉ còn có tờ báo điện tử VietnamNet là còn mạnh dạn đăng những bài báo bàn về tranh chấp chủ quyền biển Đông. Nhưng nhiều người sợ rằng sự tự do này sẽ không kéo dài. Phải chăng cũng vì ngán ngại Trung Quốc mà chính quyền Việt Nam vẫn chưa đăng ký thềm lục địa mở rộng cho Liên hiệp quốc, trong khi ngày 13/5 tới đây là hạn chót để làm việc này? Nhiều người trong giới luật gia đã liên tục cảnh báo về nguy cơ mất chủ quyền biển Đông nếu Việt Nam không đăng ký kịp thời hạn, trong bối cảnh mà Trung Quốc đã có chủ trương và hành động cụ thể để chiếm 75 % diện tích biển Đông, xâm phạm nghiêm trọng vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Hoàng Sa tươi đẹp trong trí nhớ
Lao Động số 89 Ngày 23/04/2009 Cập nhật: 7:55 AM, 23/04/2009 |  | | Ông Cúc (đứng) cùng chuẩn uý Thịnh tại cầu tàu trên đảo Hoàng Sa năm 1973 (*). |
(LĐ) - Theo kế hoạch, ngày 25.4, Đà Nẵng sẽ tổ chức lễ bổ nhiệm trực tiếp Chủ tịch của UBND huyện đảo Hoàng Sa. Theo đó, huyện này sẽ tập hợp tư liệu xuất bản kỷ yếu về Hoàng Sa, xây dựng bảo tàng để trưng bày, giới thiệu những hiện vật, thư tịch... về Hoàng Sa. Và một cuộc họp mặt "đặc biệt" giữa chính quyền và công dân huyện đảo Hoàng Sa, TP.Đà Nẵng vừa diễn ra ngày 20.4 hết sức cảm động. Sự "đặc biệt" không chỉ ở con số dưới... mười người, mà còn ở thái độ của lãnh đạo chính quyền từ cung cách quan tâm, cư xử cho đến xưng hô... hết sức trân trọng, nâng niu những "công dân hiếm" của mình.
Họ là năm trong số ít những nhân chứng từng sống và làm việc tại Hoàng Sa, giờ đều ở tuổi "thất thập cổ lai hy". Dù mắt họ đã mờ, chân yếu, nhưng trong ký ức, một thời trai trẻ ở Hoàng Sa vẫn hào hùng, tươi đẹp như ngày nào. Hoàng Sa - dải đất thiêng liêng của tổ quốc - trong những câu chuyện kể của họ giàu đẹp, lung linh đến lạ thường, nhưng cũng mang nỗi khắc khoải, thổn thức, bởi với họ, những ký ức đẹp đẽ ấy giờ chỉ còn là hoài niệm... Bài 1: Người công binh và giấc mơ dang dở
Tôi vào Internet, mở Google Earth cho ông xem ảnh về đảo Hoàng Sa bây giờ. Mắt ông sáng lên vì bắt gặp những hình ảnh thân quen, nhưng rồi chợt chùng xuống ngay. Lặng thinh một hồi, ông chỉ tay vào bản đồ nói tiếp: "Lẽ ra cái sân bay ấy giờ là của Việt Nam mình, do chính tay chúng tôi xây dựng...".
Ông là Nguyễn Văn Cúc, 61 tuổi, nguyên là lính công binh thời quân đội Sài Gòn cũ, là người cuối cùng rời Hoàng Sa - tháng giêng 1974. Ông Cúc bị bắt trong chuyến công tác thứ tư ra Hoàng Sa khảo sát, thiết kế để xây dựng một sân bay trên đảo...
Duyên nợ với Hoàng Sa
Cuộc gặp gỡ ngắn ngủi của chính quyền UBND huyện đảo Hoàng Sa và 5 công dân của mình - những người từng sống, làm việc trên đảo Hoàng Sa trước năm 1974 vào chiều 20.4.2009 làm tôi giật mình: Các cụ đã quá già yếu, có người đã nói trước quên sau, những câu chuyện, những kỷ niệm, kỷ vật quý giá về Hoàng Sa không mấy chốc sẽ theo các cụ về Tây Thiên cực lạc.
Đó là lý do tôi lần theo địa chỉ, đến gõ cửa nhà của từng cụ để mong được hóng chuyện về Hoàng Sa. Người trẻ nhất trong số 5 nhân chứng sống Hoàng Sa tại Đà Nẵng là ông Nguyễn Văn Cúc, 61 tuổi, sống nhàn cư trong một ngôi nhà cổ tại phường Phước Mỹ, quận Sơn Trà, TP.Đà Nẵng. Ngôi nhà ông rợp mát bởi bóng những hàng xoài rậm lá, gió biển thốc vào lồng lộng làm loãng đi cái oi bức của trưa hè.
Cũng như những nhân chứng khác của Hoàng Sa, ông Cúc rất sẵn lòng kể chuyện về Hoàng Sa với bất cứ ai. Mà sao không hồ hởi được, bởi một thời trai trẻ oanh liệt của ông đã gắn bó với vùng biển đảo ấy. Nơi đó cũng đánh dấu mốc lịch sử lớn nhất cuộc đời ông.
Ông đã lao nhọc tham gia kiến tạo hạ tầng trên đảo, thương quý những sinh cảnh tuyệt vời của tạo hoá nơi ấy, rồi đến bờ vực của sự sống - còn khi xảy ra hải chiến - 1974, để trở về với đất liền. Ông nói: "Con người ai cũng có số mệnh định sẵn. Và tôi như có duyên số với Hoàng Sa". Ông Cúc sinh ra trong một gia đình ngư dân ở làng chài Mân Thái, trên bán đảo Sơn Trà. Ông cha đã bao đời lênh đênh trên biển làm nghề đánh cá.
Nhưng ông chỉ được theo cha vài lần ra khơi, vì còn phải đi học. Để khỏi đối đầu với những cuộc chiến sinh tử thời loạn lạc, năm 1970, ông đã xin vào làm công binh kiến tạo ở Liên đoàn 8, Đại đội 812 thuộc quân đội Sài Gòn cũ, đóng tại Đà Nẵng. Nhưng rồi thời gian tham gia xây dựng cầu, đường, xây nhà gia binh chưa được bao lâu thì ông Cúc bị điều đi Hoàng Sa.
Cái lý do mà họ chọn ông không chỉ có thể lực tốt, là con nhà ngư dân, mà còn vì ông có bằng thuyền trưởng, có kinh nghiệm đi biển. Và từ năm 1972 - 1973, ông đã 3 lần theo tàu chiến để hải hành đến Hoàng Sa khảo sát, thiết kế, xây dựng cơ sở hạ tầng. Công trình sửa chữa hệ thống bể ngầm chứa nước ngọt trên đảo chính là tiêu tốn nhiều thời gian nhất.
Đó là hệ thống gần 30 hầm ngầm xung quanh ngôi nhà được đặt làm trụ sở của đài khí tượng thuỷ văn, mỗi hầm có sức chứa trên 1.000 mét khối nước, được xây dựng từ thời Pháp thuộc. Nhiệm vụ của ông Cúc cùng đồng nghiệp là khảo sát, sửa chữa để bền vững hoá và xây thêm bể chứa nước phục vụ nước ngọt cho cả quần đảo Hoàng Sa.
Mỗi nhiệm kỳ đi Hoàng Sa là 3 tháng, nhưng ông đã phải nhiều lần ra vào quần đảo này để khảo sát, thiết kế, phục vụ cho việc lập dự án, chuyển vật tư thiết bị từ đất liền ra. Biển đảo Hoàng Sa hoang sơ tuyệt đẹp đã in đậm trong tâm trí ông Cúc, như tuổi thơ của ông vẫn đầm mình trên biển Mỹ Khê ở quê nhà.
Chuyến hải hành cuối cùng
 | | Ông Cúc thẫn thờ khi nhìn ảnh Hoàng Sa bây giờ (qua Google Earth). | Lần ra Hoàng Sa cuối cùng của ông Cúc là thực hiện nhiệm vụ khoan lấy mẫu đất, khảo sát thực địa để phục vụ dự án xây dựng sân bay trên đảo Hoàng Sa. Cùng đi lúc ấy có một chuyên gia người Mỹ, hai sĩ quan quân đội.
Ông Cúc kể: "Trước khi đi, họ dắt tôi lên bộ chỉ huy quân đoàn, cấp cho hàm trung sĩ, rồi ra cảng Tiên Sa, theo tuần dương hạm Lý Thường Kiệt (HQ-16) ra Hoàng Sa đúng ngày 14.1.1974. Sau khi rời HQ-16, chèo xuồng caosu vào đảo, chúng tôi khảo sát, khoan lấy mẫu đất ở 3 vị trí (đầu, giữa và cuối của sân bay - dự kiến sẽ xây) chỉ trong 2 ngày 1 đêm là hoàn tất. Ngày 16.1, đoàn 4 người chúng tôi rời đảo, lên lại HQ-16 để vào bờ.
Tuy nhiên, lần trở về ấy đầy trắc trở khi xảy ra chiến sự trên biển. Tôi cùng hơn 30 lính địa phương quân đóng trên đảo cùng một số cán bộ của đài khí tượng thuỷ văn đã bị bắt, bị dẫn độ đi nhiều nơi, hơn 1 tháng sau, chúng tôi mới được đưa về Hồng Kông, bàn giao cho Hội Chữ thập Đỏ. Từ Hồng Kông bay về sân bay Tân Sơn Nhất, Sài Gòn trên chiếc Boeing 207.
Cuộc trở về từ cõi chết ấy đẫm nước mắt, không chỉ vì mừng vui sống sót, được đông đảo học sinh, sinh viên, báo chí ra tận sân bay chào đón với biểu ngữ "Anh hùng Hoàng Sa đảo trở về", mà chúng tôi còn đứt ruột vì bay ngang qua Hoàng Sa - dải đất thiêng liêng của tổ quốc vừa chìm trong khói lửa, bị tạm mất. Giấc mơ xây dựng sân bay của Việt Nam tại Hoàng Sa của chúng tôi đã thành dang dở.
Năm 1975, chiến tranh kết thúc, ông Cúc về xin vào lái xe cho Ban An ninh quận 3 (Công an quận Sơn Trà bây giờ). Năm 1978 chuyển sang Cty vận tải ôtô Quảng Nam - Đà Nẵng rồi công tác đến năm 1997 mới xin về hưu sớm. Cái làng chài Mân Thái thưa thớt dân cư, quanh năm chỉ nghe sóng vỗ của ông Cúc bây giờ đã xênh xang phố mới.
Bờ biển nghèo, nay san sát resort, nhà hàng cao cấp, nhưng ngôi nhà cổ của ông Cúc vẫn khiêm tốn trong hẻm sâu. Ông Cúc tâm sự: Con tôi những hai gái, một trai. Trong đó, Nguyễn Thành Nhân là thằng con trai mà vợ tôi mang bầu trong lúc chia tay đi Hoàng Sa lần cuối. Lần ra đi định mệnh ấy, tôi luôn day dứt khi nghĩ về đất liền, vợ con. Thế nhưng, bây giờ con tôi ít đứa nào biết về Hoàng Sa, hỏi chuyện về Hoàng Sa cả.
Ngoài một số ít những bài báo gần đây, hiện có quá ít thông tin, sách vở nói về Hoàng Sa. Tôi thường cô đơn với ký ức của mình. May mà đến năm 2007, UBND huyện đảo Hoàng Sa tổ chức gặp mặt những nhân chứng từng sống, làm việc ở Hoàng Sa, tôi mới gặp lại những người đồng cảm với mình. Lần gặp thứ hai này, được biết chính quyền sẽ xuất bản kỷ yếu, sách về Hoàng Sa, tôi càng mừng. Con cháu mình cần phải biết nhiều hơn về mảnh đất thiêng liêng, vợi xa nhưng vô cùng đẹp đẽ ấy của tổ quốc.
Tôi cũng sẵn sàng kể chuyện Hoàng Sa cho các cháu học sinh, sinh viên, nếu ngành giáo dục địa phương tổ chức được những buổi học lịch sử ngoại khoá...
(*) Ông Cúc (đứng) cùng chuẩn uý Thịnh chụp ảnh lưu niệm tại cầu tàu trên đảo Hoàng Sa năm 1973 (ảnh do nhân vật cung cấp). Ảnh: Thanh Hải. Thanh Hải |
Bảo tàng chủ quyền Hoàng Sa - Trường Sa trên đảo Lý Sơn  | | Tiến sĩ Nguyễn Đăng Vũ |
TTCT - Sở Văn hóa - thể thao và du lịch Quảng Ngãi đã và đang triển khai dự án “Bảo tồn và phát huy tác dụng khu di tích Hoàng Sa kiêm quản Trường Sa” tại huyện đảo Lý Sơn. Trò chuyện với Tuổi Trẻ Cuối Tuần, tiến sĩ Nguyễn Đăng Vũ, phó giám đốc Sở Văn hóa - thể thao và du lịch Quảng Ngãi, cho biết dự án này bắt đầu triển khai giữa tháng 7-2007 tại huyện Lý Sơn, có tổng vốn đầu tư hơn 15 tỉ đồng. Đến nay dự án đã cơ bản hoàn thành, chuẩn bị đưa vào khai thác gồm các hạng mục: phục dựng đình làng An Vĩnh, tu bổ nhà thờ cai đội Phạm Quang Ảnh, miếu Hoàng Sa, quần thể ngôi mộ lính Hoàng Sa, đặc biệt xây dựng tại huyện đảo Lý Sơn Bảo tàng đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải cùng với tượng đài hải đội Hoàng Sa. * Thưa ông, Bảo tàng Hoàng Sa Bắc Hải xây dựng tại huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) có gì đặc biệt so với các bảo tàng khác trong cả nước? - Ngoài phần trưng bày về đất nước, con người huyện đảo Lý Sơn, bảo tàng sẽ trưng bày các hiện vật, công trình nghiên cứu, tài liệu, hình ảnh về đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải và các tư liệu khác liên quan đến việc khẳng định chủ quyền của VN tại vùng biển Đông. Tại đây sẽ trưng bày mô hình thuyền buồm, các vật dụng sinh hoạt mà người lính Hoàng Sa đã sử dụng, mô hình các thuyền lễ trong lễ khao lề thế lính Hoàng Sa. Các văn bản cổ vốn được lưu giữ tại các tộc họ trên đảo Lý Sơn cũng như ở dọc ven biển Quảng Ngãi; các bộ chính sử, các châu bản triều Nguyễn, các bộ sử sách của các học giả trong và ngoài nước có ghi chép về hải đội Hoàng Sa. Những hình ảnh về các di tích, lễ hội liên quan đến đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải. Danh sách các cai đội, chánh đội trưởng, các dân binh đi Hoàng Sa - Trường Sa, đặc biệt từ thời Gia Long, Minh Mạng (khoảng năm 1802-1840). Các bản đồ cổ vẽ quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa thuộc lãnh thổ VN. Các bản trích tiêu biểu trong các bộ chính sử VN về Hoàng Sa - Trường Sa. Nơi đây cũng sẽ trình chiếu một số bộ phim tài liệu về các di tích, lễ hội liên quan đến đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải. Đặc biệt, trước Bảo tàng Hoàng Sa Bắc Hải ở thôn Đông, An Vĩnh, huyện Lý Sơn có một tượng đài về hải đội Hoàng Sa được tạc bằng đá xanh cao 4,5m, nặng hơn 30 tấn.  | | Thả thuyền buồm mang theo hình nhân thế mạng ra biển - một lễ thức đậm nét văn hóa Việt trong lễ hội khao lề thế lính Hoàng Sa vào tháng 2, tháng 3 âm lịch hằng năm ở huyện đảo Lý Sơn - Ảnh: Minh Thu | * Vì sao chọn huyện đảo Lý Sơn là nơi xây dựng Bảo tàng Hoàng Sa Bắc Hải mà không chọn một số địa phương khác ở Quảng Ngãi? - Sở dĩ chọn huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) làm địa điểm xây dựng Bảo tàng Hoàng Sa Bắc Hải vì Lý Sơn chính là nơi có nhiều người đi khai thác biển Đông, đo vẽ bản đồ, cắm cột mốc dựng bia chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa liên tiếp trong nhiều thế kỷ, nhiều nhất là trong thế kỷ 19. Hiện nay, trên đảo Lý Sơn cũng còn hiện diện khá dày đặc một hệ thống di tích, lễ hội liên quan trực tiếp đến đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải. Việc xây dựng bảo tàng trên đất đảo Lý Sơn không chỉ nhằm bảo tồn, gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa liên quan đến đội Hoàng Sa - Trường Sa mà còn góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ VN trên vùng biển Đông.  | | Nhân dân huyện đảo Lý Sơn ghi ơn công trạng hải đội Hoàng Sa lưu truyền tại đình làng An Vĩnh, xã An Vĩnh với hai câu liễn đối: “Ân đức dựng xây miền đảo Lý. Nghĩa tình bồi đắp dải Hoàng Sa” - Ảnh: Minh Thu | * Thưa ông, làm thế nào phát huy hiệu quả hoạt động của Bảo tàng Hoàng Sa Bắc Hải? - Bên cạnh việc tiến hành sưu tầm các hiện vật, tài liệu, phim tài liệu, hình ảnh để kịp thời mở cửa phục vụ khách tham quan thời gian tới, sở cũng đang đẩy mạnh công tác “xã hội hóa” kêu gọi các cơ quan, tập thể, cá nhân trong và ngoài nước đóng góp các tài liệu, hiện vật để làm phong phú thêm cho nhà trưng bày. Theo tôi, cần kết nối bảo tàng này với các điểm di tích liên quan đến đội Hoàng Sa - Trường Sa, hệ thống các di tích cổ xưa khác hiện vẫn còn dày đặc trên đất đảo Lý Sơn như: đình làng An Hải, chùa Hang, dinh Trung Yên, lăng Chánh, lăng Thứ, lăng Cồn, dinh Tam Tòa, chùa Đục... và các thắng cảnh nổi tiếng khác trên đất đảo Lý Sơn. Làm sao hằng năm lễ khao lề thế lính Hoàng Sa vào dịp tháng 2, tháng 3 âm lịch thật sự trở thành một ngày hội lớn không chỉ của người dân Quảng Ngãi nói riêng mà còn là ngày hội lớn của người dân ở mọi miền đất nước. Có như vậy Bảo tàng Hoàng Sa Bắc Hải mới thật sự phát huy hiệu quả, trở thành điểm tham quan du lịch, giáo dục truyền thống, ý thức bảo vệ chủ quyền lãnh thổ VN trên hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa. Mỗi kilômet vuông... một di tích về Hoàng Sa - Trường Sa Huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi có diện tích vỏn vẹn 10km2 nhưng có đến mười di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia và cấp tỉnh, trong đó một nửa liên quan trực tiếp đến đội Hoàng Sa - Trường Sa. Theo ông Vũ, “Lý Sơn là bảo tàng sống động về lịch sử chủ quyền của VN tại quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa”. Cụ thể là một hệ thống nhà thờ các tộc họ như: nhà thờ cai đội Phạm Quang Ảnh đi Hoàng Sa vào năm Ất Hợi (1815) thời vua Gia Long để đo đạc thủy trình; nhà thờ họ Võ tại thôn Tây, xã An Vĩnh, huyện Lý Sơn cũng có nhiều người đi Hoàng Sa - Trường Sa, cụ thể: đốc chiến võ hệ phú nhuận hầu Võ Văn Phú và Võ Văn Hùng nhiều lần ra Hoàng Sa đo đạc, vẽ bản đồ xác lập chủ quyền lãnh thổ (có tên ghi trong tờ lệnh quý do tộc họ Đặng gìn giữ suốt 175 năm qua) đã ghi trong các bộ chính sử triều Nguyễn; nhà thờ tộc họ Phạm Văn có nhiều người đi Hoàng Sa nổi tiếng như: thủy quân suất đội Phạm Văn Nguyên đi Hoàng Sa vào năm Ất Mùi (1835) đem lính và các phu thuyền chuyên chở vật liệu ra dựng miếu và dựng bia đá trên đảo Hoàng Sa. Riêng về chánh đội trưởng thủy quân suất đội Phạm Hữu Nhật, các bộ chính sử ghi rất rõ công lao to lớn của ông trong việc xác lập chủ quyền VN trên quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa, nay còn bài vị có tên ông tại nhà thờ Phạm Văn thứ phái và ngôi mộ chiêu hồn của ông tại thôn Đông, xã An Vĩnh, huyện Lý Sơn. Bên cạnh nhà thờ các tộc họ là quần thể khu mộ gió: Phạm Quang Ảnh, Phạm Hữu Nhật, Nguyễn Quang Tám... và hàng nghìn mộ gió khác của các chiến sĩ đi Hoàng Sa - Trường Sa thuở trước. Ngoài ra còn có các di tích liên quan khác như: Âm Linh tự, đình làng An Vĩnh, An Hải - nơi những người lính Hoàng Sa tế tự trước khi đi thực hiện nhiệm vụ ở Hoàng Sa - Trường Sa và tại đây cũng là nơi tế tự những người lính Hoàng Sa - Trường Sa đã hi sinh. Hệ thống văn hóa phi vật thể ở huyện đảo Lý Sơn liên quan đến Hoàng Sa - Trường Sa cũng hết sức phong phú, đa dạng. Nổi bật nhất là lễ khao lề thế lính Hoàng Sa tổ chức vào tháng 2, tháng 3 âm lịch hằng năm ở các tộc họ trên huyện đảo Lý Sơn, đặc biệt là lễ khao lề thế lính Hoàng Sa ở Âm Linh tự tại làng An Vĩnh. Lễ hội này hết sức độc đáo mà không nơi nào trong cả nước có được. Hệ thống truyền thuyết, truyện kể, những câu ca dao, hoành phi, liễn đối hiện hữu ở các đình làng, nhà thờ các tộc họ còn in đậm hình ảnh về hải đội Hoàng Sa. Đặc biệt nhất là những tư liệu bằng chữ Hán cổ được lưu giữ tại các dòng họ trên đảo Lý Sơn liên quan trực tiếp, gián tiếp đến quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa. Để ghi nhớ công ơn của đội Hoàng Sa năm xưa, nhân dân Lý Sơn đã lưu truyền tại đình làng An Vĩnh hai câu liễn đối: “Ân đức dựng xây miền đảo Lý/ Nghĩa tình bồi đắp dải Hoàng Sa”. Hay những câu ca dao: “Hoàng Sa mây nước mênh mông/ Người đi thì có mà không thấy về/ Hoàng Sa mây nước bốn bề/ Tháng hai khao lề thế lính Hoàng Sa”. “Hoàng Sa lắm đảo nhiều cồn/ Chiếc chiếu bó tròn mấy sợi dây mây”. “Hoàng Sa đi có về không/ Lệnh vua sai phải quyết lòng ra đi”... Đó là chưa kể các văn bản cổ nói về việc sang nhượng, bán đoạn đất đai, chính sách thuế còn lưu lại ở các tộc họ trên đảo Lý Sơn có gián tiếp liên quan ít nhiều những người đi lính Hoàng Sa, cụ thể những người đi lính Hoàng Sa được miễn giảm thuế, ưu đãi về phân chia ruộng đất... |
MINH THU
Sống lại ký ức Hoàng Sa Một cán bộ UBND huyện đảo Hoàng Sa cho biết, sau khi UBND TP.Đà Nẵng công bố quyết định bổ nhiệm Chủ tịch UBND huyện Hoàng Sa (25.4.2009), chính quyền mới của huyện đảo này cũng theo đó được kiện toàn. Đặc biệt, huyện Hoàng Sa sẽ cùng với Sở Nội vụ, xúc tiến lại đề án xây dựng trụ sở, bộ máy chính quyền chuyên trách, bảo tàng và một số chương trình tuyên truyền, giáo dục khác về Hoàng Sa. Những thông tin, tư liệu về Hoàng Sa sẽ có điều kiện đến với rộng rãi công chúng, học sinh, sinh viên hơn. Những câu chuyện sống động về Hoàng Sa của những nhân chứng, người từng sống và làm việc tại Hoàng Sa sẽ được kể nhiều hơn. Họ sẽ không còn "cô đơn" với ký ức của mình... >> Hoàng Sa tươi đẹp trong trí nhớ Một Hoàng Sa linh thiêng  | | Nhân chứng sống Hoàng Sa - ông Nguyễn Nhự - tại vườn nhà | "Đã thành nếp, thành lề thói lâu đời, khi đi Hoàng Sa, bất cứ người nào, dù dân thường, lính hay sĩ quan, viên chức đều mang theo rất nhiều hương hoa, áo giấy để đốt cho tiền nhân, những người dân Việt đã nằm lại trên đảo. Ở đảo chính Hoàng Sa còn có cả ngôi miếu thờ tượng Phật Bà Quan Âm, giếng nước cổ, có một cả khu nghĩa địa của tiền nhân Việt..." - ông Nguyễn Nhự - 83 tuổi, xã Bắc An, Hoà Tiến, Hoà Vang, TP.Đà Nẵng - bồi hồi kể lại. Ông Nhự là một trong số ít những người đi ra Hoàng Sa đến 3 nhiệm kỳ (9 tháng, từ 1968-1971), bởi theo ông: "Tôi bỏ cuốc bên ruộng, leo lên bờ là thành viên chức ngành khí tượng. Những công việc của tôi do các anh chị đồng nghiệp hướng dẫn, chứ không được đào tạo qua trường lớp nào như người khác. Bởi con đông nên tôi phải chịu khó, xung phong đi Hoàng Sa nhiều lần. Tôi đi Hoàng Sa, cơ quan lo toàn bộ chuyện ăn ở, lương 6.000 đồng/tháng, ở nhà vợ và 5 con nhận đầy đủ". Ông kể, công việc thường ngày của cán bộ thuỷ văn cũng như lính địa phương quân ở Hoàng Sa rất nhàn hạ. Giờ rảnh rỗi, họ thường kéo nhau ra miếu thờ Phật Bà Quan Âm để hóng mát, xem cá. Đó là ngôi miếu cổ sát mép biển phía nam của đảo chính. Trước miếu có hai phiến đá to, nhô hẳn ra mặt biển, tạo hàm ếch lớn. Đó là nơi mà vô vàn cá hồi, cá nhám, cá khế, tôm mực... tung tăng trong làn nước trong vắt như tiên cảnh. Tại đây, ngoài tượng Phật bằng đá cao khoảng 1,5 mét, còn có 2 ghế cố định bằng bêtông, giường thờ... Trên đó có để cuốn sổ vừa ghi bằng tiếng Pháp, vừa tiếng Việt. Câu chuyện trong cuốn sổ cho biết, người Pháp đã cho phu đưa tượng Phật cổ vô Đà Nẵng. Việc vận chuyển qua biển cả lại êm xuôi, nhưng khi cập bến sông Hàn - đoạn gần Cổ viện Chăm, Phật tượng này bỗng nặng trĩu, bao nhiêu cần cẩu to, hiện đại đến cũng không nhấc lên nổi hoặc bị gãy. Hoảng sợ trước sự linh thiêng của tượng, họ đã vội chuyển tượng ra lại Hoàng Sa, đặt tại vị trí cũ và tu bổ miếu thờ. "Sách lưu niệm ghi sờ sờ ở đấy, vậy mà có người không tin. Một hôm nọ, có 2 cậu lính địa phương quân thấy quá nhiều cá trước miếu nên rủ nhau đem lựu đạn ra đánh. Kẻ trước người sau dắt díu nhau ra khoảng 10 mét, rồi người đi trước rút chốt. Thế nhưng không hiểu sao, cậu lính đó không chịu ném lựu đạn, mặc cho người bạn phía sau hoảng hốt hối thúc. Lựu đạn nổ, cá không chết, nhưng cả 2 người đều phải bị nằm lại tại nghĩa địa với tiền nhân trên đảo, với 2 tấm chiếu cá nhân. Từ đó, không còn ai dám đánh cá trên đảo bằng lựu đạn, thuốc nổ nữa". Chúng tôi một mực không tin, nhưng ông Nhự quả quyết rằng, 2 người lính ấy chết có ít nhất 30 người trên đảo bấy giờ chứng kiến, chôn cất họ. Và cả câu chuyện về súc gỗ thần kỳ bên miếu thờ Phật. Ông Nhự kể rằng, chính vì mình hay siêng năng chuyện hậu cần, cơm nước, nên khi thấy súc gỗ to, chắc, ông đã mang rìu ra định chẻ làm củi. Nhưng nhiều lần leo lên đều trượt ngã. Ông đã nhờ mấy người lính ra đẩy giúp. Nhưng sức trẻ của họ cũng chịu thua khi bổ rìu xuống là gỗ toé lửa lên bất thường. Những câu chuyện nửa thực, nửa hư của ông lão ở tuổi 86 có thể khó thuyết phục người nghe, nhưng chúng tôi trân trọng bởi đó là những kỷ niệm, điều ông tin tưởng, ấp ủ cả một đời người. Song có điều thật mà nhiều "công dân" Hoàng Sa xác nhận, đó là ngôi miếu thờ là nơi ấm áp nhất trong tâm linh người đi biển, đảo. Nhất là đối những tàu cá ngư dân dạt vào tránh bão ở Hoàng Sa, họ lên đảo thắp hương tại miếu, hướng tâm linh đến đức Phật, tạ ơn sự che chở của đảo. Bây giờ ở tuổi xế chiều, ông Nhự an nhàn nơi đồng quê với ruộng vườn ở Hoà Tiến. Mười cô con gái đã thành gia thất, cậu con trai út... thứ 14 của ông cũng đã sinh con. Nhưng những kỷ niệm, câu chuyện về một Hoàng Sa linh thiêng vẫn in đậm trong tâm trí ông và được hăng hái kể như chuyện mới vừa xảy ra. Ngọn "hải đăng" Hoàng Sa Ông Nguyễn Duy Nhất - Phó GĐ Sở Nội vụ Đà Nẵng, một trong những cán bộ kiêm nhiệm của chính quyền Hoàng Sa tại cơ quan thường trú của huyện đảo ở Đà Nẵng - đã tỏ ra vui mừng trước việc UBND TP sẽ bổ nhiệm chủ tịch mới của huyện. Ông nói: "Việc đầu tiên của chính quyền mới của UBND huyện đảo Hoàng Sa là sẽ nỗ lực sưu tầm, tìm kiếm những thông tin, dữ liệu về Hoàng Sa để xuất bản cuốn kỷ yếu đầu tiên của huyện đảo. Tiếp đó, chúng tôi sẽ khởi động lại dự án xây dựng trụ sở UBND huyện Hoàng Sa, Bảo tàng Hoàng Sa và bộ máy cán bộ chuyên trách của UBND huyện". Theo ông Nhất, thì đề án xây dựng trụ sở UBND huyện đảo Hoàng Sa đã có từ vài năm trước đây. Hiện các bộ, ngành trung ương đã cơ bản thông qua, tuy nhiên còn một vài vướng mắc về kế hoạch tài chính nên chưa thực hiện được. Dịp này là cơ hội tốt để xúc tiến lại dự án đó.  | | PGĐ Sở Nội vụ Đà Nẵng - ông Nguyễn Duy Nhất - giới thiệu các hiện vật tại Bảo tàng Hoàng Sa | Tôi thực sự xúc động bởi những kế hoạch, dự định công tác của chính quyền Hoàng Sa lại trùng hợp với nguyện vọng của những "công dân hiếm" của huyện đảo. GĐ Sở Nội vụ Đà Nẵng - người mà theo kế hoạch sẽ được bổ nhiệm làm Chủ tịch UBND huyện đảo Hoàng Sa (vào 25.4 tới) - ông Đặng Công Ngữ vui mừng thông báo: "Sau thông tin về buổi họp mặt của chính quyền và nhân dân huyện đảo Hoàng Sa hôm 20.4 trên báo chí, đã có thêm 4 - 5 người, là những nhân chứng sống của Hoàng Sa từ các nơi đã liên lạc với Sở Nội vụ. Sẽ có thêm nhiều thông tin, dữ liệu về Hoàng Sa từ những câu chuyện của họ". Tôi lại tò mò hỏi ông, là Chủ tịch UBND huyện đảo Hoàng Sa, với số ít những "công dân hiếm", già, nơi làm việc sẽ không có cảnh đông đúc dân chúng chen nhau giải quyết những thủ tục hành chính, không có cảnh kiện tụng việc tranh chấp đất đai..., vậy ông sẽ làm gì? Ông Ngữ rất muốn chia sẻ dự định của chính quyền, nhưng chưa tiện nói trước: "Chúng tôi đã có sẵn những kế hoạch, nhưng làm đến đâu sẽ nói đến đấy vậy". Thế sau này, học sinh, sinh viên, những người dân của địa phương khác tò mò đến thăm UBND huyện đảo Hoàng Sa, kể cả đoàn khách nước ngoài thì ông sẽ "tiếp" họ bằng những câu chuyện gì? "Hơn 500 hiện vật, thư tịch... hiện có ở Bảo tàng Hoàng Sa (đặt tại trụ sở cơ quan thường trú UBND huyện Hoàng Sa tại Đà Nẵng - PV), những câu chuyện từ các nhân chứng, sách báo, kỷ yếu... về Hoàng Sa sẽ giúp chúng tôi giới thiệu với du khách" - ông Ngữ cũng kết thúc câu chuyện dở dang với những lời từ chối khéo léo. Tuy vậy, một thông tin mới đến từ GĐ Sở GDĐT Đà Nẵng, ông Huỳnh Văn Hoa - đã giải thích thêm: "Kể từ năm học 2009-2010, ngành GDĐT Đà Nẵng sẽ chính thức đưa vào chương trình chính khoá, dạy về lịch sử, văn học, địa lý địa phương, trong đó có chương trình giáo dục lịch sử về Hoàng Sa. Đây là chủ trương lớn của Bộ GDĐT, và đề án của Sở GDĐT cũng đã được UBND TP.Đà Nẵng thông qua. Ngoài ra, thực hiện chủ trương "Trường học thân thiện, học sinh tích cực", ngành GDĐT Đà Nẵng sẽ tổ chức cho các thầy cô, học sinh, sinh viên đi tham quan, tìm hiểu văn hoá, lịch sử của các bảo tàng, đình làng, các công trình văn hoá, trong đó sẽ đến tham quan các địa chỉ liên quan đến Hoàng Sa. Chúng tôi cũng sẽ đề nghị UBND huyện đảo Hoàng Sa phối hợp với Sở GDĐT, tạo điều kiện cho ngành giáo dục đưa giáo viên, học sinh đến tham quan Bảo tàng Hoàng Sa. Tổ chức các buổi ngoại khoá để các thầy cô và học sinh có dịp nghe các nhân chứng sống của Hoàng Sa kể chuyện lịch sử...". Như vậy, những ước nguyện, mong muốn mà các nhân chứng đã một phần nào được đáp ứng. Hoàng Sa sẽ được nhắc nhớ nhiều hơn, nhất là cho thế hệ mai sau. Những chương trình, kế hoạch đó sẽ là "ngọn hải đăng" Hoàng Sa từ đất liền. THANH HẢI - Lao Động Bức xúc của một nhà khoa học trước việc Trung Quốc bất chấp lẽ phải, chà đạp lên sự thật lịch sử về chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trường Sa và Hoàng Sa là của Việt Nam  | | Một đảo lớn trong quần đảo Hoàng Sa. Trung Quốc đã ngang nhiên xây sân bay trên đảo | TT - Quyết định của Quốc vụ viện Trung Quốc thành lập thành phố cấp huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam trực tiếp quản lý ba quần đảo, trong đó có quần đảo Tây Sa và Nam Sa, tức Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, là hành động ngang ngược, bất chấp lẽ phải, chà đạp lên sự thật lịch sử về chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo ấy. Luận điểm đầu tiên của chính quyền tỉnh Quảng Đông khi công khai khảo sát Hoàng Sa mà Trung Quốc gọi là Tây Sa vào năm 1909, là cho rằng quần đảo "Tây Sa" là đất vô chủ (res nullius), hải quân tỉnh Quảng Đông cắm cờ trên đảo và bắn 21 phát súng đại bác tại một số đảo ở Hoàng Sa năm 1909. Sau khi dùng vũ lực một cách bất hợp pháp cưỡng chiếm Hoàng Sa vào trung tuần tháng giêng năm 1974, Trung Quốc đã cố gắng tìm kiếm tài liệu để cố gán ghép bằng cách cắt xén, nếu cần thì xuyên tạc với sự đóng góp của các nhà học giả như Sử Lệ Tổ đưa ra luận điểm cho rằng "các đảo Nam Hải từ cổ xưa đến nay là lãnh thổ Trung Quốc", do nhân dân Trung Quốc "phát hiện sớm nhất", "kinh doanh sớm nhất", do chính phủ các triều đại Trung Quốc "quản hạt sớm nhất" và viện dẫn nhiều tài liệu lịch sử mang tính suy diễn để dẫn chứng (Quang Minh Nhật Báo, 24-11-1975). Những luận cứ cố gán ghép * Những tư liệu phương Tây xác nhận về chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa: - Nhật ký trên tàu Amphitrite (năm 1701) xác nhận Paracels là một quần đảo thuộc về nước An Nam. - Le mémoire sur la Cochinchine của Jean Baptiste Chaigneau (1769-1825) viết vào những năm cuối đời Gia Long (hoàn tất năm 1820) đã khẳng định năm 1816 vua Gia Long đã xác lập chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Paracels. - An Nam Đại Quốc Họa Đồ của giám mục Taberd xuất bản năm 1838 khẳng định Cát Vàng (Hoàng Sa) là Paracels và nằm trong vùng biển của Việt Nam. - The Journal of the Asiatic Society of Bengal, Vol. VI đã đăng bài của giám mục Taberd xác nhận vua Gia Long chính thức giữ chủ quyền quần đảo Paracels). - The Journal of the Geographycal Society of London (năm 1849) GutzLaff ghi nhận chính quyền An Nam lập ra những trưng thuyền và một trại quân nhỏ để thu thuế ở Paracels... | Để minh chứng cho sự xác lập chủ quyền của mình ở Tây Sa tức Hoàng Sa của Việt Nam, Trung Quốc lại cũng đưa ra những luận điểm được coi là "vững mạnh nhất" như sau: 1. Trung Quốc khẳng định các đảo Nam Hải đã thuộc phạm vi quản hạt của Trung Quốc từ năm thứ 5 niên hiệu Trinh Nguyên đời Đường năm 789. Đúng sử sách Trung Quốc như sách Chư Phiên Chí của Triệu Nhữ Quát có chép những thay đổi về qui chế hành chính từ đời Hán đến đời Tống, trong đó có việc Quỳnh Sơn, một quận của đảo Hải Nam thời đó (xin nhấn mạnh) - sau thuộc thành phố Hải Khẩu - được đặt thành "phủ đô đốc" vào năm thứ 5 niên hiệu Trinh Nguyên đời Đường, tức năm 789. Nhưng qua các sách Đường Thư, Thái Bình Hoàn Vũ Ký, Dư Địa Kỷ Thăng (1221), Quảng Đông Thông Chí (1842) thì vào năm thứ 5 niên hiệu Trinh Nguyên đời Đường tại đảo Hải Nam chỉ thấy có chuyện kể viên đô đốc nhà Đường là Lý Phục mang quân sang lấy lại đảo Hải Nam sau hơn 100 năm dân bản địa nổi dậy làm chủ đảo và xin vua Đường đặt phủ đô đốc ở quận Quỳnh Sơn, không hề có chuyện "sáp nhập bất kỳ đảo ở biển Nam Trung Hoa vào đảo Hải Nam". 2. Trung Quốc phái thủy quân đi "tuần tiễu", Trung Quốc đã viện dẫn các sự kiện để chứng minh. Trước hết về luận cứ "phái thủy quân tuần tiễu cương giới biển", luận chứng của nhóm Hàn Chấn Hoa chỉ dựa vào một đoạn trong sách Vũ Kinh Tổng Yếu, song những đoạn văn này hoàn toàn không chứng minh được lập luận "Trung Quốc phái thủy quân tuần tiễu quần đảo Tây Sa bắt đầu đời Tống". Nhóm Hàn Chấn Hoa đã cố gán ghép hai đoạn văn vào với nhau gồm đoạn văn nói về lộ trình "Từ đồn Môn Sơn đến các nước Đại Thực, Phật Sư Tử, Thiên Trúc" tiếp liền vào đoạn văn đầu viết về "đặt dinh lũy thủy quân tuần tiễu ở hai cửa biển Đông và Tây". Điều này không đúng với nguyên bản Vũ Kinh Tổng Yếu. Đây chỉ là sự cố gán ghép "đầu Ngô mình Sở" để cố minh chứng việc tuần tiễu thủy quân đời Tống qua đất "Cửu Nhũ Loa Châu" mà nhóm này cho là Tây Sa. Còn việc tuần tiễu của Ngô Thăng, trước hết tìm hiểu vị trí các địa danh trên, chúng ta được biết Quỳnh Nhai là thủ phủ Quỳnh Châu ở phía bắc đảo Hải Nam, Đồng Cổ là quả núi cao 339m ở phía đông bắc đảo Hải Nam, Thất Châu Dương là phía đông đảo Hải Nam, Tư Canh Sa là bãi cát phía tây đảo Hải Nam. Đây chỉ là cuộc tuần tiễu của Ngô Thăng quanh đảo Hải Nam, chứ không đến Tây Sa, nên nhớ rằng Thất Châu Dương ở phía đông đảo Hải Nam nên không hề là Tây Sa tức Hoàng Sa của Việt Nam, vốn cách Hải Nam hơn 350 hải lý về phía đông nam. 3. Các đảo Nam Hải đã được vẽ vào bản đồ Trung Quốc. Các tác giả bộ sưu tập do Hàn Chấn Hoa chủ biên cũng rất "công phu" đưa ra 13 bản đồ và chia làm hai loại. Một loại là bản đồ Trung Quốc thời Minh Thanh có vẽ các đảo Nam Hải. Một loại khác là bản đồ Trung Quốc thời Minh Thanh và các nước phiên thuộc, cũng có vẽ các đảo Nam Hải. Bằng chứng thuyết phục  | Máy bay Trung Quốc ở Hoàng Sa. Hiện Trung Quốc đã tổ chức tour du lịch tham quan Hoàng Sa chỉ dành cho người Trung Quốc! |
Có rất nhiều bản đồ chính thức của Trung Quốc từ đời Nguyên, Minh đến Thanh, trong đó có bản đồ ấn bản gần thời điểm có tranh chấp như bản đồ Đại Thanh Đế Quốc trong Đại Thanh Đế Quốc toàn đồ, xuất bản năm 1905, tái bản lần thứ tư năm 1910 đã vẽ cực nam của lãnh thổ Trung Quốc là đảo Hải Nam, không vẽ bất cứ hải đảo nào khác ở biển Đông. Bản đồ Hoàng Triều Nhất Thống dư địa tổng đồ trong cuốn Hoàng Thanh Nhất Thống dư địa toàn đồ xuất bản năm Quang Tự 20 (1894) đã ghi rõ cực nam lãnh thổ Trung Quốc là Nhai Châu, phủ Quỳnh Châu, Quảng Đông ở 18 độ 30 phút Bắc, trong khi Tây Sa hay Hoàng Sa được Trung Quốc đặt tên, có đảo ở vị trí cao nhất là 17 độ 5 phút. Điều này chứng tỏ Tây Sa hay Hoàng Sa chưa hề là lãnh thổ của Trung Quốc. Trong khi đó, ngay tài liệu của chính người Trung Quốc như Hải Ngoại Ký Sự của Thích Đại Sán đã cho biết Chúa Nguyễn sai thuyền khai thác các sản vật từ các tàu bị đắm ở Vạn Lý Trường Sa, tức Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Các tư liệu chứng minh chủ quyền của Việt Nam đã xuất hiện liên tục qua các đời: từ đầu thời Chúa Nguyễn (tức đầu thế kỷ XVII), sang thời Tây Sơn rồi tới triều Nguyễn (từ vua Gia Long), Việt Nam có khoảng gần 30 tư liệu các loại, đã khẳng định chủ quyền của Việt Nam hết sức rõ ràng. Thời kỳ Đại Việt, từ thời kỳ Nam Bắc phân tranh và thời Tây Sơn, nguồn tư liệu về Hoàng Sa hầu như chỉ còn lại tư liệu của chính quyền họ Trịnh ở Bắc Hà, chủ yếu là Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư, năm 1686, trong Hồng Đức Bản Đồ hay Toản Tập An Nam Lộ trong sách Thiên Hạ bản đồ và Phủ Biên Tạp Lục, năm 1776 của Lê Quý Đôn. Trong Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư hay Toản Tập An Nam Lộ, năm 1686 có bản đồ là tài liệu xưa nhất, ghi rõ hàng năm họ Nguyễn đưa 18 chiến thuyền đến khai thác ở Bãi Cát Vàng. Còn tài liệu trong Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn, năm 1776 là tài liệu cổ, mô tả kỹ càng nhất về Hoàng Sa, quyển 2 có hai đoạn văn đề cập đến việc Chúa Nguyễn xác lập chủ quyền của Đại Việt tại Hoàng Sa bằng hoạt động của đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải. Sang thời kỳ triều Nguyễn từ năm 1802 đến năm 1909, có rất nhiều tài liệu chính sử minh chứng chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa: - Dư Địa Chí trong bộ Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú (1821) và sách Hoàng Việt Địa Dư Chí (1833). Nội dung về Hoàng Sa của hai cuốn sách trên có nhiều điểm tương tự như trong Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn cuối thế kỷ XVIII. - Đại Nam Thực Lục phần tiền biên, quyển 10 (soạn năm 1821, khắc in năm 1844) tiếp tục khẳng định việc xác lập chủ quyền của Đại Việt cũng bằng hoạt động của đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải. - Đại Nam Thực Lục Chính biên đệ nhất kỷ (khắc in năm 1848); đệ nhị kỷ (khắc in xong năm 1864); đệ tam kỷ (khắc in xong năm 1879) có cả thảy 11 đoạn viết về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa với nhiều nội dung mới, phong phú, rất cụ thể về sự tiếp tục xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. - Tài liệu rất quí giá là châu bản triều Nguyễn (thế kỷ XIX), hiện đang được lưu trữ tại kho lưu trữ trung ương 1 ở Hà Nội. Ở đó người ta tìm thấy những bản tấu, phúc tấu của các đình thần các bộ như Bộ Công, và các cơ quan khác hay những dụ của các nhà vua về việc xác lập chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa dưới triều Nguyễn như việc vãng thám, đo đạc, vẽ họa đồ Hoàng Sa, cắm cột mốc... Năm Thiệu Trị thứ 5 (1845) có chỉ đình hoãn kỳ vãng thám, sau đó lại tiếp tục. - Trong bộ sách Đại Nam Nhất Thống Chí (1882 soạn xong, 1910 soạn lại lần hai và khắc in) xác định Hoàng Sa thuộc về tỉnh Quảng Ngãi và tiếp tục khẳng định hoạt động đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải do đội Hoàng Sa kiêm quản... Ngoài ra các bản đồ cổ của Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX đều vẽ Bãi Cát Vàng hay Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa trong cương vực của Việt Nam. | Về những tư liệu của Trung Quốc và phương Tây minh chứng chủ quyền Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, người ta thấy: - Hải Ngoại Ký Sự của Thích Đại Sán (người Trung Quốc) năm 1696. Trong quyển 3 của Hải Ngoại Ký Sự đã nói đến Vạn Lý Trường Sa khẳng định Chúa Nguyễn đã sai thuyền ra khai thác các sản vật từ các tàu đắm trên quần đảo Vạn Lý Trường Sa. - Các bản đồ cổ Trung Quốc do chính người Trung Quốc vẽ từ năm 1909 trở về trước đều minh chứng Tây Sa và Nam Sa không thuộc về Trung Quốc. Khảo sát tất cả bản đồ cổ của Trung Quốc từ năm 1909 trở về trước, người ta thấy tất cả bản đồ cổ nước Trung Quốc do người Trung Quốc vẽ không có bản đồ nào có ghi các quần đảo Tây Sa, Nam Sa. Tất cả bản đồ cổ ấy đều xác định đảo Hải Nam là cực nam của biên giới phía nam của Trung Quốc. Sau khi Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng Hoàng Sa tháng 1-1974, nhiều đoàn khảo cổ Trung Quốc đến các đảo thuộc quần đảo này và gọi là “phát hiện” nhiều cổ vật như tiền cổ, đồ sứ, đồ đá chạm trổ trên các hòn đảo này, song đều không có giá trị gì để minh xác chủ quyền Trung Quốc, trái lại họ lại phát hiện ở mặt bắc ngôi miếu “Hoàng Sa Tự” ở đảo Vĩnh Hưng, tức đảo Phú Lâm (Ile Boisée), lại là bằng chứng hiển nhiên vết tích của việc xác lập chủ quyền của Việt Nam. |
TS NGUYỄN NHÃ Hoàng Sa đảo Việt Nam hay bến tàu Trung Cộng? Trà BồngVĩnh biệt Hoàng SaTừ lâu Trung Cộng đã có tham vọng làm chủ một hàng không mẫu hạm (HKMH). Nhưng mọi dự án thiết kế và tự đóng lấy dường như đã được tạm hoãn lại. Năm 1985 Trung Cộng quyết định mua một HKMH phế thải của Úc, đó là chiếc HMAS Melbourne, trên danh nghĩa để lấy sắt vụn với giá chưa tới 2 triệu đô la. HKMH này được đóng với kỹ thuật của thế chiến thứ II nhưng đã được tân trang và tu sửa nhiều lần để lưu dụng tới năm 1982. Dù chưa tham chiến lần nào nhưng đã từng húc vào tàu bạn 2 lần trong các cuộc tập trận. Tuy vậy phần phi đạo trên tàu vẫn còn nguyên vẹn. Trung Cộng thật sự đã tháo gỡ HKMH này. Nhưng trước tiên là để các kỹ sư đóng tàu của hải quân học hỏi chi tiết cấu trúc, rồi sau mới lấy sắt vụn. Các quan sát viên quân sự cho biết phần phi đạo có thể đã được giữ lại để huấn luyện. Sự sụp đổ của Liên Bang Nga đã tạo một cơ hội thật tốt cho Trung Cộng học hỏi thêm về kỹ thuật đóng hàng không mẫu hạm. Trong khi kinh tế các nước Cộng Hoà cũ của liên bang Xô Viết gặp khó khăn thì phía Trung Cộng lại phát triển vượt bực. Nhờ đó Trung Cộng mua thêm được hai HKMH cũ của Nga: chiếc Minsk vào năm 1998 và chiếc Kiev vào năm 2000. Sau khi nghiên cứu kỹ thiết kế của hai HKMH này, Trung Cộng đã đưa vào sử dụng trong kỹ nghệ giải trí để thu hút du khách. Việc dùng các công ty tư nhân mua HKMH cũ cho kỹ nghệ du lịch của Trung Cộng chỉ là cái võ bọc. Trước khi các tàu này được đưa vào mục đích dân sự thì nó phải qua một thời gian nghiên cứu lâu dài của hải quân. Cùng sách lược này một công ty Trung Cộng đã mua HKMH thứ tư. Chiếc này của Ukraine, với giá 20 triệu đô la. Sau nhiều năm thương lượng, cộng thêm gần 3 tháng lênh đênh trên biển và hơn 10 triệu tiền thuê kéo, HKMH Varyag (Viking) đã về đến xưởng đóng tàu Dalian của Trung Cộng năm 2002. Khác với các chiếc trước, Varyag không phải là HKMH cũ mà là một chiếc tàu mới đang nằm trong xưởng đóng tàu. Vào thời điểm 1992 con tàu đã gần xong, chỉ cần thêm khoảng vài trăm triệu đô la để hoàn tất. Nhưng Liên Bang Xô Viết đã tan rã, không ai có tiền để chi ra. Cũng không ai biết nó sẽ thuộc về nước nào sau khi hoàn thành, nên nó bị bỏ dở. Sau gần 10 năm hoang phế Ukraine đã tháo hết máy móc và trang bị điện tử, chỉ còn lại vỏ tàu để bán cho Trung Cộng. Nếu hoàn tất và được trang bị đầy đủ thì hoả lực của Varyag rất đáng sợ. Với phi đạo dài hơn 300 thước, Varyag có thể là căn cứ di động của 24 chiến đấu cơ loại có khả năng cất cánh gần thẳng đứng, như Mig-29L hay SU-33. Ðồng thời Varyag còn mang được 42 trực thăng tấn công loại KA-29/31. Một số quan sát viên quân sự cho rằng tất cả các võ tàu HKMH Trung Cộng mua, kể cả chiếc Varyag, đều ở trong tình trạng quá tồi tệ. Người Tàu không thể nào sửa chữa hay tân trang để dùng lại. Các phân tích gia tây phương này quả thật biết rất ít về người Tàu. Người Việt Nam thì khác. Chúng ta biết rất rõ khả năng của những người luôn ở trần, chỉ có chiếc quần cụt mặc quanh năm, chuyên nghề thu mua ve chai và sắt vụn. Thật ra Trung Cộng đã cặm cụi tu sửa Varyag liên tục trong suốt thời gian qua. Nó đã được sơn màu xám hải quân. Phải chăng Varyag sẽ được đặt tên lại, và sẽ là HKMH đầu tiên của Trung Cộng? Ðó là những dự đoán của các nhà phân tích quân sự. HKMH là một chiếc tàu vô cùng phức tạp và rất đắt tiền. Không phải chỉ trong chuyện thiết kế và chế tạo, mà cả trong việc trang bị, điều hành và vận hành. Giá một HKMH mới đóng nằm trong khoảng từ 2 tới 10 tỷ đô la. Trang bị điện tử, vũ khí và máy bay sẽ tốn tối thiểu khoảng 2 tỷ khác. Sau đó là huấn luyện thủy thủ, học cách sử dụng. Thêm vào đó: HKMH không thể hoạt động một mình mà phải có cả một hạm đội đi theo để bảo vệ nó. Chỉ những kẻ khờ khạo mới dám hoài nghi khả năng của Trung Cộng. Cứ nhìn hàng hoá tiêu thụ ở khắp các nước tư bản đang phát triển thì biết tiền bạc đang đổ về đâu. Trung Cộng có thừa khả năng tài chánh cho món đồ chơi đắt giá này, và nhiều võ khí có tính quyết định chiến trường khác. Hồi cuối năm 2006 báo Kommersant của Nga có đưa tin về hợp đồng cung cấp hàng trăm máy phản lực cho không quân Trung Cộng. Loạt động cơ này sẽ được ráp cho các chiến đấu cơ nội hoá J-10. Theo nguồn tin trên, một hợp đồng tân trang chiến đấu cơ và oanh tạc cơ SU-27/30 cũng đã được ký kết. Trung Cộng có khoảng 100 phi cơ loại này. Một hợp đồng khác cũng sẽ cung cấp cho Trung Cộng 50 chiếc SU-33 với giá trung bình mỗi chiếc là 50 triệu đô la. SU-33 là kiểu cải biến của chiến đấu cơ SU-27K để dùng cho hải quân. Khác biệt nhìn thấy được là đôi cánh phụ nằm trên và trước cánh chính. Ðôi cánh nhỏ này có mục đích tăng lực nâng khi cất cánh từ phi đạo ngắn. SU-33 còn có thể nhận nhiên liệu khi đang bay trong các phi vụ xa. Cánh chính của SU-33 có thể gập lên để bớt chiếm chỗ trên HKMH. Rõ ràng Trung Cộng đang mua sắm khí cụ cho một hàng không mẫu hạm. Trung Cộng hiện có hơn 50 tàu ngầm, kể cả 8 chiếc mới mua năm 2005 của Nga. Cùng đợt này Trung Cộng còn mua 2 khu trục hạm (destroyer) mới, nâng số khu trục hạm lên gần 30 chiếc. Theo “Chinese Defense Today” thì Trung Cộng có 47 tuần dương hạm (frigate) và hơn 200 hộ tống hạm/tàu tuần duyên (corvette/patrol vessel) các loại. Tất cả khu trục và tuần dương hạm của Trung Cộng đều được trang bị hoả tiễn có ra-đa hướng dẫn và có thể tấn công các mục tiêu cách xa hơn 120 cây số. Về phía Việt Nam thì vốn liếng đáng kể nhất là 4 hộ tống hạm cao tốc Tarantul mới mua của Nga, trong đó có 2 chiếc do Việt Nam đóng đang trong vòng thử nghiệm. Ðây là 2 trong số khoảng 10 hoặc 12 chiếc sẽ được đóng tại Việt Nam dưới hợp đồng với công ty đóng tàu Nga Vympel. Theo Moscow Defence Brief thì hồi tháng 12 năm 2006 Việt Nam cũng đã đặt mua một dàn hoả tiễn chống chiến hạm loại cố định đặt trên đất liền và 2 hộ tống hạm Gepard-3.9 của Nga. Chỉ riêng hai chiếc Gepard-3.9 đã trị giá 250 triệu đô la. Thời hạng giao hàng dự trụ là năm 2009. Loại tàu Gepard-3.9 được thiết kế để truy tầm và hủy diệt các mục tiêu dưới nước, trên mặt biển và trên không. Một bản tin của ShipBuildingRu cho biết việc khởi công mới bắt đầu hồi tháng 7 năm 2007 tại xưởng đóng tàu Zelenodolsk của nước Cộng Hoà Tatarstan. Thời gian cần thiết để hoàn thành công trình này là 3 năm. Dưới mặt nước Việt Nam chỉ có 2 tàu ngầm cũ mua lại của Bắc Hàn. Có lẽ đây là loại tàu ngầm “Sang O”, được chế tạo tại Bắc Hàn chủ yếu để đưa gián điệp vào Nam Hàn nên không có hoả lực hay khả năng gì đáng kể. Ngoài các trang bị mới đã được đề cập trên đây, đa số tàu bè của hải quân Việt Nam đều ở trong tình trạng rất cũ. Cũng phải kể đến yếu tố quyết định trong một trận đánh trên biển, đó là không yểm. Nói về vũ khí mới thì không quân Việt Nam có khoảng 20 chiến đấu cơ SU-27. Tuy nhiên vì không được trang bị khả năng tiếp nhiên liệu khi đang bay nên hoạt động của loại phi cơ tối tân này cũng bị giới hạn. Nó chỉ có khả năng bay tới Trường Sa, lượn vài vòng và phải trở về ngay. Dù có tầm bay khá xa, nhưng nó không có khả năng hoạt động xa như vậy khi bị truy đuổi hoặc nghênh cản. Tệ hại hơn, các cố vấn Do Thái và Ấn Ðộ, là hai nước đang giúp tân trang và huấn luyện cho không quân Việt Nam đều cho biết số giờ bay tập trận của phi công Việt Nam quá thấp. Không có con số đáng tin cậy nào về ngân sách quốc phòng của Việt Nam. Nhưng chúng ta biết ngân sách của Trung Cộng năm 2008 lên tới gần 60 tỉ đô la. Thống kê về chi tiêu quân sự do Viện Stockholm International Peace Reaseach Institute (SIPRI) ghi nhận cho thấy Trung Cộng đã gia tăng ngân sách của họ liên tục trong 12 năm vừa qua. Ai cũng biết việc gia tăng này không nhằm vào lương lính, khẩu phần lính như họ nói, mà là các loại vũ khí tối tân. Rõ ràng Trung Cộng đang muốn biến đổi một quân đội nghèo nàn, chỉ có khả năng đàn áp dân chúng để bảo vệ chính quyền của đảng, thành một quân đội có khả năng can thiệp để bảo vệ quyền lợi của họ bên ngoài biên giới nước Tàu. Trong khi đó Việt Nam có khuynh hướng hoàn toàn ngược lại. Người ta sợ rằng quân đội Việt Nam ngày nay chỉ tập trung kinh doanh và chỉ còn khả năng đàn áp dân chúng để bảo vệ chính quyền chứ không được trang bị để bảo vệ đất nước. Song song với chiều hướng trái ngược này, trong khi Việt Nam chỉ biết thi nhau ăn cắp ngân quỹ quốc gia và ăn cướp của dân để đổ tiền vào khách sạn, sân đánh gôn, trung tâm nghỉ mát thì hồi 1999 Trung Cộng đã hoàn tất một phi trường quân sự dài 2,600 thước trên đảo Phú Lâm (Woody Island) thuộc quần đảo Hoàng Sa. Phi trường này có khả năng tiếp nhận tất cả các loại phi cơ hiện có của Trung Cộng. Qua ảnh vệ tinh ngày nay chúng ta có thể thấy rất rõ căn cứ này, kể cả một bến tàu. Rải rác trên đảo có các đài liên lạc vệ tinh, các bồn nhiên liệu và hầm chứa phi cơ. Ðảo Hòn Ðá (Rocky Island) nằm cạnh đảo Phú Lâm. Dù chỉ có một diện tích nhỏ, nhưng với độ cao 14 thước trên mặt biển thì Rocky Island là điểm cao nhất của quần đảo Hoàng Sa. Bộ quốc phòng Hoa kỳ cho biết Trung Cộng đã thiết lập một trạm tình báo viễn liên trên đảo này từ năm 1995. Nhìn vào bản đồ biển đông chúng ta thấy với một HKMH hoạt động giữa Hoàng Sa và Trường Sa thì không quân Trung Cộng có thể khống chế hoàn toàn vùng biển này. Trung Cộng không cần HKMH để tấn công Ðài Loan. Trung Cộng chỉ cần một HKMH để nối dài tầm hoạt động cho không quân của họ xuống sâu tận quần đảo Trường Sa. Chạy đua vũ trang với Trung Cộng thì Việt Nam không có khả năng. Ngân sách quốc phòng công khai của Trung Cộng hàng năm là 60 tỷ, nhưng theo bộ quốc phòng Hoa Kỳ thì con số thật sự thường gấp đôi hay gấp ba con số chính thức. Tức là khoảng trên 120 tỷ, hơn hẳn tổng sản lượng toàn quốc của Việt Nam hiện nay. Người Việt Nam khắp thế giới có thể thương tiếc Hoàng Sa và một phần Trường Sa như thương tiếc một người thân đã mất. Sự thật hiển nhiên là Hoàng Sa đã mất, và Việt Nam sẽ không bao giờ lấy lại được. Trong khi đó Việt Nam còn kiểm soát được hơn 25 đảo, kể cả các gềnh đá khi nổi khi chìm của quần đảo Trường Sa. Nhưng câu hỏi là được bao lâu nữa trước khi chúng ta phải vĩnh biệt luôn Trường Sa? Một Trung Cộng là cường quốc về kinh tế và quân sự cũng sẽ là một kẻ cường hào ác bá trong khu vực Á Châu Thái Bình Dương. Một Việt Nam độc tài cộng sản không thể nào chống đỡ được sự lấn chiếm dần các đảo còn lại ở Trường Sa. Dân chủ hóa đất nước sẽ cho chúng ta nhiều điều kiện bảo vệ bờ cỏi hơn, nếu không thì chuyện vĩnh biệt luôn Trường Sa chỉ là vấn đề thời gian. © DCVOnline Bắt Đầu Rạn Nứt Blog Change We need SGTT hôm qua đăng bài Ngay thẳng dưới đây của Huy Đức. Trước hết xin tỏ lòng ngưỡng mộ SGTT và nhà báo Huy Đức đã dũng cảm đưa những tin tức mà chẳng ai dám lên tiếng. Tôi còn nghe nói rằng mẹ của Thủ Tướng đã sỉ vả Tỉnh Ủy Bình Dương không ra gì về vụ việc này. Ngay thẳng Sáng 17.4.2009, một người thân của đương kim Thủ tướng cũng đã bị “áp giải ra khỏi hiện trường” khi chính quyền huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương tiến hành cưỡng chế thu hồi hơn 280ha cao su còn lại ở xã An Tây để làm khu công nghiệp. Anh Huỳnh Ngọc Sang, người tự giới thiệu đang quản lý vườn cao su cho bà Hai Tâm, người chị ruột của Thủ tướng, kể: Lực lượng cưỡng chế với khoảng 150 người, đã “đưa đi” ít nhất ba người trong đó có “ông Hai”, chồng bà Tâm. Vườn cao su kể trên thuộc 642ha đất cao su vốn của công ty quốc doanh Sobexco. Trước đây, do làm ăn thua lỗ, Sobexco đã được tỉnh Bình Dương cho phép “bán vườn cây không gồm quyền sử dụng đất” để trả nợ, với giá bình quân 50 triệu/ha. Tiến trình mua bán kéo dài tới năm 2001, thì có những thay đổi, giấy tờ mua bán được ghi là “bên A (Sobexco) chuyển nhượng vườn cây cao su gắn liền với quyền sử dụng đất”. Hơn 40 người mua vườn cây cao su ở đây về sau được cấp sổ đỏ. Tháng 6.2006, Thanh tra tỉnh Bình Dương cho rằng việc cấp sổ đỏ cho 40 hộ này là trái luật. Cuộc tranh cãi chưa ngã ngũ nhưng tỉnh vẫn cho phép công ty XNK Bình Dương thực hiện dự án xây dựng khu công nghiệp An Tây trên khu đất này. Số đất mà sáu năm trước đó tỉnh “bán” với giá 50 triệu đồng/ha, nay để làm khu công nghiệp, một công ty quốc doanh đền bù với giá gần 1 tỉ/ha. Kiên quyết làm khu công nghiệp, chỉ trong vòng từ tháng 7 đến tháng 10.2007, công ty XNK Bình Dương đã chi ra hơn 500 tỉ để đền bù cho vườn cao su. Từ năm 2006, một số bài báo đã coi đây là “tham nhũng”; gần đây, một số bài báo đề nghị Nhà nước cũng nên giữ chữ tín, Nhà nước sai thì Nhà nước chịu không nên thu lại tiền đền bù đã chi hay thu hồi sổ đỏ. Nhưng, vấn đề là trong số 40 người “dân” đứng tên trong các sổ đỏ ấy, có một số là người nhà của quan chức địa phương; và, tới cuối năm 2008, tuy không đứng tên quyền sử dụng đất ở An Tây, có người thân của Thủ tướng cũng lên gặp chính quyền địa phương khiếu nại. Một quan chức địa phương xin giấu tên nói rằng họ biết trong số những người phản đối sáng 17.4 có vợ chồng người chị ruột của Thủ tướng nhưng chính quyền vẫn tiến hành cưỡng chế theo đúng quy định của pháp luật và lực lượng cưỡng chế đã không gặp phải bất cứ sự can thiệp nào. Chuyện mua bán, đền bù vườn cao su đúng sai rồi sẽ còn phải làm rõ, nhưng tinh thần sự ngay thẳng trong thực thi công vụ của chính quyền huyện Bến Cát là một thái độ hành xử đáng ghi nhận. Huy Đức
Tôi cũng có theo dõi vụ này và nhiều vụ khác tương tự trong chuỗi các sự kiện cho thấy mâu thuẫn giữa anh 6 (Chủ Tịch nước Nguyễn Minh Triết) và anh 3 (Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng) đã bắt đầu rạn nứt nặng nề. Vụ việc ở Bến Cát Bình Dương trên đây chỉ là một trong hàng chục vụ khác nhau, kể cả Thủ Thiêm Q2, TP.HCM mà anh 6 đã nhiều lần yêu cầu anh 3 phải tránh để quyền lợi người thân và gia đình làm ảnh hưởng và chi phối các quyết định của pháp luật ở địa phương. Nhưng hầu hết đều không có sự chuyển biến tích cực. Vụ cưỡng chế xảy mà Huy Đức nói thực chất có sự bật đèn xanh của anh 6 nên Tỉnh Bình Dương mới dám làm mạnh tay như vậy. Tôi sẽ có bài viết sâu hơn về vấn đến anh 6 và anh 3 gửi đến mọi người sau. Friday April 24, 2009 - 05:38pm (PDT) Permanent Link
Chê trách Thủ tướng vì chảy máu tài nguyên Nếu khoản đầu tư mới trị giá 19,5 tỉ USD của Chinalco vào Rio Tinto, công ty nắm giữ nhiều mỏ sắt và đồng ở Australia cũng như trên toàn thế giới, được chính thức thông qua và tăng cổ phần của Chinalco trong Rio Tinto có 18%, quyền chi phối của Trung Quốc đối với tài nguyên thiên nhiên của Australia sẽ tăng lên đáng kể. Và đó chính là điều mà công luận nước này lo sợ và phản đối. Tuần trước, thương vụ này đã trở thành trọng tâm theo dõi của các cổ đông Rio Tinto trong buổi họp thường niên. Giám đốc điều hành Tom Albanese kiên quyết bảo vệ quyết định của mình: “Chúng tôi cam kết thực hiện giao dịch với Chinalco và trọng tâm của chúng tôi là kiểm soát và định hướng toàn bộ quá trình trước khi đưa ra cho các cổ đông bỏ phiếu”. Rio Tinto cho rằng thương vụ này sẽ không gây hại tới lợi ích quốc gia của nước Australia. Nhưng đối với một công ty đang ngập trong nợ nần thì thương vụ sẽ giúp ích rất nhiều khi mà nguồn tín dụng của họ cạn kiện. Rio Tinto sẽ được tiếp nhận những dòng tín dụng trị giá hàng tỉ đô la của các ngân hàng Trung Quốc. Nhưng những cuộc tranh luận chính trị ngày càng căng thẳng về quan hệ giữa Australia và Trung Quốc sẽ khiến việc thông qua này gặp khó khăn. Trong một diễn biến mới nhất, các chính trị gia đối lập đã buộc tội Thủ tướng Kevin Rudd, người từng làm ngoại giao ở Trung Quốc và biết nói tiếng Trung, là "đại sứ lưu động của Bắc Kinh". Họ cũng chỉ trích Bộ trưởng Quốc phòng vì ông này đã không công khai thông tin xoay quanh việc ông được một doanh nghiệp Trung Quốc chi trả cho 2 chuyến đi đến Trung Quốc khi ông còn là một nghị sĩ đối lập. Cả Thủ tướng và Bộ trưởng Quốc phòng Australia đều bảo vệ mối quan hệ của họ với Trung Quốc. Nhưng một thượng nghị sĩ tên Barnaby Joyce trong một bản tin truyền hình phản đối vụ đầu tư của Trung Quốc đã chỉ trích gay gắt rằng: “Chính phủ Australia sẽ không bao giờ được phép mua các mỏ của Trung Quốc. Vậy tại sao chúng ta lại để cho chính phủ Trung Quốc mua và kiểm soát những tài sản chiến lược của quốc gia?” Không chỉ ở Australia, các công ty Trung Quốc đang thu hút sự quan tâm trên khắp thế giới khi tìm cách thâu tóm các mỏ tài nguyên và năng lượng trên toàn thế giới. Trung Quốc thông báo năm ngoái đầu tư ra nước ngoài của họ có giá trị tổng cộng 52 tỉ USD, trong đó 2/3 là đầu tư vào tài nguyên thiên nhiên. Năm nay họ cũng đã có 65 vụ làm ăn với tổng trị giá 23,2 tỉ USD, hầu hết là về tài nguyên thiên nhiên. Trước tình hình đó, những người làm ngân hàng, luật gia hay ngoại giao đang đấu tranh để buộc các lãnh đạo Trung Quốc công khai tuyên bố sẽ bảo vệ các tài nguyên thiên nhiên. “Có một chính sách chiếm đoạt các tài nguyên rất rõ ràng của Trung Quốc”, một nhà ngoại giao phương Tây nói. Từ sự khôn ngoan của Chinalco... Xiao Yaqing - Tổng Giám đốc Chinalco, 49 tuổi - là người rất tham vọng và biết cách hòa hợp với mục tiêu của chính quyền Trung Quốc trong việc đưa Chinalco thành một tập đoàn khai khoáng toàn cầu. Ông Xiao sinh ở Bắc Kinh và lớn lên trong buổi giao thời phức tạp về chính trị ở Trung Quốc. Ông lấy bằng kĩ sư năm 1982. Trong một thập niên sau đó, ông Xiao từ chỗ là giáo viên do chính phủ cử về dạy học ở một nhà máy nhôm gần biên giới với Nga đã vươn lên thành quản lí nhà máy. Năm 1998, ông được điều đến xoay chuyển tình thế cho một công ty quốc doanh thua lỗ ở Tây Nam Trung Quốc. Thành công của Xiao ở công ty này đã được rất nhiều lãnh đạo Trung Quốc lúc đó tán dương, từ Thủ thướng Chu Dung Cơ đến Chủ tịch Giang Trạch Dân. Năm 2002, công ty này sáp nhập với Chinalco. Trong vòng 2 năm, ông Xiao được bầu làm Chủ tịch và Bí thư của Chinalco. Xiao rất nóng lòng muốn đa dạng hóa đầu tư. Năm 2004, Chinalco đã vượt qua hơn 10 đối thủ để giành quyền đầu tư vào một mỏ bô-xít của Australia để lấy nguyên liệu sản xuất nhôm. Khoản đầu tư 3 tỉ đô la Australia lúc đó là khoản đầu tư lớn nhất của Trung Quốc vào nước này. Rio Tinto, chủ sở hữu của một mỏ bô-xít gần đó cũng đã tiếp xúc với Chinalco về việc chia sẻ cơ sở hạ tầng. Tháng 5/2007, Chinalco đồng ý đầu tư vào một công ty liên doanh luyện kim ở Arập Xêút. Tháng 6 cùng năm, công ty này cũng bỏ ra 860 triệu USD để mua lại công ty khai thác đồng Peru của Canada. Tháng 12/2007, công ty BHP Billiton, công ty khai mỏ lớn nhất thế giới, đấu thầu vào Rio Tinto. Nếu thành công, thương vụ này sẽ kết hợp các công ty khai thác sắt lớn thứ 2 và thứ 3 thế giới. Mà sắt lại là thành phần chính của thép, kim loại mà Trung Quốc đang cần cho các nhà máy và các cao ốc. Lo ngại về quyền lực tiềm năng của sự sáp nhập đó, Chính phủ Trung Quốc đã họp khẩn cấp với các doanh nghiệp quốc doanh lớn. Uỷ ban Phát triển và Cải cách quốc gia điều khiển các phiên họp để tìm kiếm các ý tưởng ngăn chặn việc đấu thầu của BHP. Tham dự có Chinalco, Công ty sản xuất thép Baosteel, Công ty khai thác than Shenhua và Ngân hàng phát triển Trung Quốc. Nguồn tin từ ngành ngân hàng cho biết Rio Tinto đang tìm kiếm một nhà đầu tư để mua lại. Trước đó Xiao đã thảo luận với Rio về việc các mỏ bô-xít ở Australia. Ông Xiao quyết định tìm cách mua lại lượng lớn cổ phiếu của Rio Tinto. Một khoản đầu tư như thế vừa giúp Chính phủ Trung Quốc ngăn chặn việc mua lại của BHP, vừa đa dạng hóa các hoạt động sản xuất của Chinalco. Ông Xiao kêu gọi sự giúp đỡ từ các ngân hàng Trung Quốc, bao gồm Ngân hàng phát triển Trung Quốc và công ty China International Caplital Corp. Ông Xiao cũng thuê công ty Lehman Brothers để lên kế hoạch chiếm lĩnh Rio Tinto. Chinalco đã giành chiến thắng trong buổi họp với Uỷ ban Phát triển và Cải cách quốc gia khi lãnh đạo cơ quan này xem xét các bản đề xuất. Theo Chinalco thì các quan chức chính phủ chỉ có 2 câu hỏi với công ty: Công ty có đủ vốn theo đuổi thương vụ này không? Và công ty có thể giảm thiểu tối đa các rủi ro? Uỷ ban này đã chọn phương án của Chinalco và công ty này đã liên kết với công ty sản xuất nhôm Mỹ Alcoa. Kế hoạch của họ là mua đủ cổ phiếu để gây ảnh hưởng lên vụ mua bán của BHP. Sau khi thị trường đóng cửa ngày 31/1/2008, những người giao dịch của Lehman đã thành công trong việc thâu tóm một phần cổ phiếu của Rio Tinto. Ông Xiao ngồi cạnh bàn bàn giao dịch và quá lo lắng đến nỗi không ăn được. Chinalco đã bỏ ra 14 tỉ USD để mua 9% cổ phiếu của Rio, trở thành cổ đông lớn nhất của công ty này. Đây là vụ đầu tư lớn nhất ở nước ngoài của một công ty Trung Quốc cho đến thời điểm đó. Cổ phần của Chinalco lúc đó vẫn còn quá bé để ngăn chặn BHP. Tuy nhiên, với tư cách là một cổ đông chính của Rio Tinto, Chinalco không muốn bị coi là một mối đe dọa ở Australia. Họ đã thuê công ty chuyên vận động hành lang Hawker Britton để tiếp cận Thủ tướng Australia Rudd. Tháng 11 năm ngoái, BHP đã từ bỏ việc đấu thầu Rio Tinto. Trung Quốc thở phào nhẹ nhõm. Nhưng cổ phiếu của Rio Tinto sụt giảm giá đã khiến ông Xiao ngồi trên đống lỗ có lúc đó đã lên đến khoảng 10 tỉ USD. Đến tháng 12, người quản lí bộ phận chiến lược của Rio Tinto, Douglas Ritchie, đã hội đàm với Wang Wenfu, người đứng đầu chi nhánh của Chinalco ở Australia. Hai vị này sống gần nhau ở Brisbane. Rio Tinto đang lo lắng về khoản nợ 38 tỉ đô la khi mua lại Alcan, công ty nhôm lớn nhất Canada tháng 7/2007. Đến tháng 10/2009, 8,9 tỉ USD tiền nợ sẽ đến hạn phải trả. Ông Wang cho biết Chinalco quan tâm tới việc hợp tác lâu dài còn ông Ritchie cho biết Rio Tinto muốn được tiếp cận nguồn tín dụng từ các ngân hàng Trung Quốc. Hai công ty cuối cùng cũng đi đến một thỏa thuận thăm dò: Chinalco sẽ mua lại 7,2 tỉ USD tiền trái phiếu mà sẽ được chuyển đổi thành cổ phiếu của Rio Tinto cộng với 12,3 tỉ USD tiền tài sản của Rio bao gồm cổ phần trong các mỏ sắt và đồng lớn. Với khoản nợ sắp đến hạn vào tháng 10, Rio Tinto đang xem xét hoặc bán ra thêm cổ phiếu mới hoặc theo đuổi thương vụ với Chinalco. Hội đồng quản trị thì hậu thuẫn lựa chọn hợp tác với Chinalco. Tháng 2 vừa rồi, Chinalco và Rio thông báo một khoản đầu tư 19,5 tỉ USD gây tranh cãi. ... đến chiến lược thâu tóm của Trung Quốc Không giống những nhà kĩ trị khác đang điều hành các doanh nghiệp quốc doanh lớn của Trung Quốc, sự nghiệp chính trị của Xiao lên rất nhanh. Sau thương vụ với công ty đồng Peru, ông được bổ nhiệm làm uỷ viên dự khuyết Bộ Chính trị trung ương đảng Cộng sản Trung Quốc. Lần này, chỉ vài ngày sau khi kí một thỏa thuận hời nói trên, ông Xiao Yaqing đã rời vị trí đương nhiệm trong công ty để gia nhập nội các chính phủ Trung Quốc. Việc này dấy lên câu hỏi về những tập đoàn quốc doanh của Trung Quốc khi họ tham gia sân chơi toàn cầu: liệu họ thực sự làm việc vì lợi nhuận hay họ đang theo đuổi một kế hoạch quốc gia dài hạn của Chính phủ Trung Quốc ? Xem xét thương vụ Chinalco - Rio Tinto có thể thấy câu trả lời là cả hai. Đặc biệt là vai trò của Uỷ ban Phát triển và Cải cách quốc gia Trung Quốc. Cơ quan này có quyền lực sâu rộng trong các khoản đầu tư của Trung Quốc ở nước ngoài. Nếu có hơn một công ty quốc doanh quan tâm tới cùng một tài nguyên ở nước ngoài, họ sẽ phải thi đấu một cuộc thi kiểu như hoa hậu do uỷ ban này làm giám khảo. Thường thì chỉ có một người chiến thắng cuối cùng để đại diện cho Trung Quốc. Thương vụ Chinalco - Rio Tinto tuy chưa có kết luận cuối cùng song các quan chức của Rio Tinto không loại bỏ khả năng tỉ lệ Chinalco nắm giữ sẽ còn tăng thêm. Khi được hỏi liệu có ngày nào Chinalco sẽ mua cả Rio Tinto không, Phó Chủ tịch Chinalco Lu Youqing chỉ cười: “Chúng tôi không bao giờ làm thế. Ai sẽ biết điều gì sẽ xảy ra trong 10 năm tới". * Chung Hoàng (Theo Wall Street Journal) Lựa chọn khôn ngoan 17/04/2009 07:02 (GMT + 7) (TuanVietNam) - Dưới nhãn quan của các kinh tế gia, nhiều dự án FDI, đang triển khai hợp tác theo kiểu bào mòn tài nguyên, môi trường. Việc lựa chọn và chọn lựa lại các dự án FDI chính là hành động cụ thể nhất để hiện thực hóa thông điệp về mô hình phát triển kinh tế của Việt Nam. "Cào tài nguyên đi bán" Không phủ nhận những tác động tích cực do đầu tư nước ngoài mang lại cho nền kinh tế Việt Nam, nhưng với mô hình tăng trưởng còn chú ý số lượng hơn chất lượng tăng trưởng, chúng ta đã phải trả cái giá không nhỏ. Không chỉ xem FDI là "cứu cánh thoát nghèo", ai đưa gì Việt Nam cũng nhận như quan sát của chuyên gia kinh tế tài chính Trần Sĩ Chương, theo Ts. Trần Đình Thiên, không ít các dự án FDI thực chất là cách Việt Nam đang "cào tài nguyên đi bán". Lâu nay, FDI cam kết tăng nhanh vẫn được xem là một sự ghi nhận về triển vọng tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam. Nếu nhìn vào cơ cấu FDI, câu này phải được dịch nghĩa đầy đủ: nhà đầu tư nhìn Việt Nam như một cơ hội khai thác tài nguyên: đất đai với những dự án bất động sản khổng lồ (chiếm tới 50% cơ cấu FDI vào Việt Nam hiện nay), nước ngọt với các dự án thép cũng khổng lồ, rồi sức lao động chưa qua đào tạo với những dự án gia công... Dòng FDI vào Việt Nam vẫn nghiêng vào những ngành khai thác tài nguyên và sử dụng công nghệ thấp: từ sản xuất bột ngọt, đến lọc dầu, làm thép, sản xuất xi măng, thậm chí làm resort cũng đều lấy khai thác tài nguyên là chính. Ngay ngành dệt may và da giầy thực chất cũng là khai thác tài nguyên - sức lao động thô chưa qua đào tạo. Nếu không nặng về khai thác tài nguyên thì dự án FDI lại là cơ sở gây ô nhiễm, tiêu tốn năng lượng: ngành thép, lọc dầu, khai thác khoáng sản... Lòng tốt chưa được "có đi có lại" Khi những DN như Vedan, Hyundai Vinashin... đề nghị xin cấp phép vào Việt Nam, ta đã trải thảm hoa chào đón. Những con số về dự án đầu tư, tổng số tiền FDI vào... được xem là thành tích địa phương. Nhiều ưu đãi được đưa ra. Có địa phương, quy hoạch trình Chính phủ phê duyệt chưa lâu, để chào đón nhà đầu tư, đã không ngại ngần thay đổi, mà hệ quả của nó có thể phá vỡ cả chiến lược phát triển kinh tế của quốc gia. Cùng với ưu đãi đó là kỳ vọng về công ăn việc làm, về tăng trưởng kinh tế địa phương. Thế nhưng, có vẻ như lòng tốt chưa được có đi có lại. Mang lại sự sôi động kinh tế cho một khu vực, tạo ra công việc cho một nhóm lao động, nhưng đổi lại, cái giá phải trả từ những dự án này lớn hơn nhiều: môi trường sống bị tàn phá, sinh kế của một cộng đồng dân cư lớn bị đe dọa và tài nguyên bị bào mòn tới mức cạn kiệt... Những dòng chất thải đổ ra từ nhà máy sản xuất bột ngọt từ tinh bột sắn của Vedan, khiến cho con sông Thị Vải "bị bức tử"... hay việc gây ô nhiễm của dự án Hyundai Vinashin ở Khánh Hoà là những hồi chuông khẩn thiết kêu cứu. Hơn nữa, những đại dự án dạng này thường không sử dụng nhiều lao động, công nghệ lạc hậu. Chưa kể tới việc sản phẩm làm ra, nếu có, của các dự án đó Việt Nam sẽ dùng được bao nhiêu, và bán ra cho ai ? Đặt vấn đề như vậy để thấy, Việt Nam cần xem mức hợp lý trong sự lựa chọn của nhà đầu tư, từ đó để nói có hoặc không với các dự án, như chúng ta đã làm với dự án thép Posco ở Vân Phong, Khánh Hòa. Lựa chọn khôn ngoan Vào thời điểm này, dù kinh tế phát triểm chậm lại, nhưng so với các nước trong khủng hoảng, Việt Nam vẫn được đánh giá tương đối tích cực. Cơ hội lựa chọn và lựa chọn lại đầu tư, khi các DN nước ngoài gặp khó khăn muốn dừng lại đang hiện hữu cho Việt Nam. Con số FDI cao có thể tạo nên một thành tích vang dội, nhưng là nhà quản lý, những cân nhắc về hệ quả dài hạn và những lợi ích khác luôn được đặt là ưu tiên, nhất là khi các nút thắt tăng trưởng chưa được tháo. Ts. Trần Đình Thiên cho rằng, trước đây, vì tập trung cho quyền tăng trưởng để thoát nghèo, chúng ta đã dễ dãi với các dự án đầu tư. Nay, mục tiêu tăng trưởng cần được xem nhẹ đi, để ta có điều kiện chọn lựa tốt hơn. Kinh tế khó khăn FDI có thể giảm, nhưng phải "trong thế chủ động, giảm theo sự lựa chọn của chúng ta, không phải là quyết định thoát lui đơn thuần của nhà đầu tư", Ts. Trần Đình Thiên nói. Nói cách khác, vừa phải cải thiện môi trường đầu tư để thu hút FDI nhưng Việt Nam cũng phải lựa chọn một cách chừng mực, chặt chẽ hơn, trên cơ sở một chiến lược thu hút đầu tư dài hơi hơn. Thông điệp về việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng, từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, từ thâm dụng tài nguyên, lao động chưa qua đào tạo sang chú trọng công nghệ, kỹ thuật... đã được đưa ra. Việc chọn lựa và chọn lựa lại các dự án FDI chính là hành động cụ thể nhất để hiện thực hóa thông điệp về mô hình phát triển kinh tế của Việt Nam. * Phương Loan 100.000 tấn thép Trung Quốc chờ vào Việt Nam Thời báo Kinh tế Sài Gòn online - Thứ Sáu, 24/4/2009, 09:49 (GMT+7) Theo Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại Việt Nam, nắm bắt nhu cầu và giá thép xây dựng của Việt Nam bắt đầu tăng, các doanh nghiệp Trung Quốc đang tìm đối tác Việt Nam để ký hợp đồng bán với khối lượng lớn. Hiện nay, các nhà xuất khẩu thép Trung Quốc đã tập kết khoảng 100.000 tấn thép phi 6, 8, 10 ở khu vực cửa khẩu để chờ xuất sang Việt Nam giá xuất khoảng 3.450 nhân dân tệ/tấn. Hiệp hội Thép Việt Nam cho biết, ước khoảng 150.000 tấn thép cuộn nguồn gốc từ các nước khác trong khối ASEAN và Trung Quốc đã nhập khẩu vào Việt Nam từ đầu năm đến nay. Trong đó lượng thép hợp kim dạng cuộn có chứa chất Bo từ Trung Quốc (vừa bị áp 10% thuế nhập khẩu) chiếm khoảng 70.000 tấn. Theo TTXVN/Vietnam+
Muốn bán hàng không mẫu hạm và tàu ngầm cũ cho HQVN Aircraft Carrier &Submarines FOR SALEKeel lay Nov 16th 1942 Delivery to Royal Navy : Jan15th 1945 Sold to the Brasilian Navy: Dec 6th 1960 - then to private Owners 2002 Laid up: Oct 9th 2001. Displacement: 15.890 t standard full load 19.890 t. Light displacement considered for tender 14000 t Dimensions: LOA 211.25 m Breath on flying deck 36.44 m Breath on hull body 24.5 m. Draft 7.15 m 
Steam production 4 Admiralty Boilers 28kg/cm2 at 700 dgCelsius Steam turbines 2 Parsons power 42000 shp 2 shafts fixed pitch proppelers Speed economical 18 knots Range 12000 miles at 14 knot Aircraft equipment: Flying deck lenght 210.3 m wide 36.4 m with 8 dg angulate to ship centerline. Aircraft Underdeck Shed lenght 135.6 m 15.8 wide 5.3 m height with two 20 mt center lifters. Aircraft pusher steam device Mitchell-Brown capacity to throw 15 mt planes at 110 knots starting speed Crew: 1000 sailors and 350 aircrew Obs: Characterístic de 1998.
info@ships-for-sale.com
|
|