Luân hồi là chuyện có thật
19.04.2009 09:07
Lại một trường hợp đầu thai ở AnhNhư mọi đứa trẻ lên 6 khác, bé Cameron Macaulay rất thích vẽ tranh. Tuy nhiên, những bức tranh về tổ ấm thân yêu của em làm mẹ Norma không khỏi dựng tóc gáy: một ngôi nhà màu trắng bên bờ biển Barra - khác xa căn hộ chung cư trong thành phố Glasgow nơi họ đang sinh sống.
 Mẹ Norma và bé Cameron tại thành phố GlasgowCameron cũng luôn miệng kể về người thân “cũ” của em: có cha, mẹ, các anh trai và chị gái - cả một gia đình lớn lúc nào cũng nhộn nhịp tiếng nói cười, chứ không hiu quạnh như cuộc sống hiện tại với mẹ Norma và anh trai Martin. “Kể từ lúc bắt đầu biết nói, Cameron đã cố gắng kể cho tôi nghe hẳn một câu chuyện về “quá khứ” trên đảo Barra” - cô Norma, 42 tuổi nhớ lại - “Bé phụng phịu rằng nhà bé hồi xưa có những 3 cái toilet, trong khi căn hộ Glasgow hiện giờ chỉ có mỗi cái con con. Bé kể vanh vách mọi chi tiết về các thành viên gia đình: bố Shane Robertson đã bỏ mạng vì “không quan sát cẩn thận 2 bên” - tôi đoán ông ấy chết vì tai nạn ôtô, mặc dù Cameron không bao giờ nói thế; còn mẹ bé có mái tóc màu hạt dẻ dài ngang hông, rất hay nhoẻn miệng cười... Lần nào nhớ lại thằng bé cũng khóc đỏ hai mắt, rồi nằng nặc đòi tôi đưa trở về Đảo Barra để cho bố mẹ biết bé còn sống khỏe mạnh như thế nào. Ban đầu người trong nhà ai cũng nghi Cameron bịa chuyện, họ còn khen thằng bé có trí tưởng tượng phong phú bất ngờ. Tuy nhiên sự việc trở nên nghiêm trọng khi càng lớn bé càng tỏ ra ủ rũ và sầu thảm, chẳng thể làm cách nào giúp an ủi nguôi ngoai. Các cô giáo trường mầm non cũng tỏ ra ái ngại khi nhìn chú bé con lúc nào cũng lưng tròng nước mắt. Ngay cả lúc chơi đùa, bé cũng nhớ hồi trước đã cút bắt với các chị gái trên bãi đá ven biển ra sao...”. Gia đình Macaulay không dư dả tài chính cho lắm, bởi một mình mẹ Norma phải làm việc để nuôi nấng hai anh em Martin và Cameron. Do đó mãi đến tháng Hai đầu năm 2006, ước nguyện về Đảo Barra của cậu bé “có-kiếp-trước” mới thành hiện thực nhờ sự tài trợ của một kênh truyền hình. Đi cùng chúng tôi có Tiến sĩ Jim Tucker đến từ Virginia. Được biết ông đã nghiên cứu khá nhiều trường hợp “tái sinh” ở trẻ nhỏ như kiểu Cameron. Đặt chân lên vịnh Cockleshell, việc đầu tiên 3 mẹ con cùng làm là tức tốc dò hỏi tung tích Robertson và “ngôi nhà trắng bên bờ biển” “Chúng tôi lái thẳng xe về phía biển và ngay lập tức Cameron nhảy chồm lên khi phát hiện ra căn nhà. Theo thông tin từ cơ quan quản lý địa phương, chủ nhà trước đây đúng là mang họ Robertson, tuy nhiên sau khi ông này chết thì mọi người trong gia đình cũng bỏ đi cả”. Quả thật, ngôi nhà có 3 toilet, cửa sổ phòng ngủ nhìn ra đường cất cánh sân bay, và sau vườn thì có 1 cánh cửa bí mật gần như không ai biết - đó là những điều trước đây Cameron luôn hào hứng kể cho tôi. Duy chỉ có điều, mọi tung tích về gia đình người chủ cũ dường như đã bị xóa sạch. Trở về Glasgow, Cameron đã lấy lại bình tĩnh hơn. Bé không kể về Barra nhiều như trước nữa, và dường như cũng an tâm hơn vì không ai còn nghi ngờ bé bịa chuyện. “Cameron chưa bao giờ kể chuyện vì sao bé đã rời bỏ “kiếp trước”. Nhưng có 1 lần tôi nghe bé nói chuyện với đứa bạn “đừng sợ chết, bởi chết xong thì vẫn có cơ hội quay về. Khi tôi hỏi: Con đã đến với mẹ như thế nào, Cameron đã trả lời không chút ngần ngại: Con thấy mình rơi tõm vào trong bụng mẹ thôi. Vậy kiếp trước con tên là gì? Cameron mẹ ạ. Con vẫn là Cameron”.
Những chuyện có thật về sự đầu thai
Vấn đề đầu thai hay tiền kiếp, hậu kiếp cho đến nay thật sự chưa hoàn toàn là vấn đề mà các nhà nghiên cứu, nhất là các nhà khoa học chấp nhận là có thật, tuy nhiên, trên thế giới từ xưa đến nay vẫn không ngừng xảy ra những hiện tượng có liên hệ đến vấn đề này. Những hiện tượng mà ngay các nhà khoa học "khó tính" nhất cũng khó lòng bỏ qua hay giải thích một chiều theo luận cứ của khoa học thực nghiệm được. Thật ra trên thế giới đã có vô số trường hợp liên hệ đến vấn đề đầu thai, những trường hợp bàn bạc trong dân gian, hay được lưu giữ lại qua những tài liệu trong các tu viện, các đền thờ, các thư viện và gần đây nhất là trong các viện nghiên cứu về đầu thai ở Hoa Kỳ, Ấn Ðộ, Anh Quốc, Pháp , Ý và cả Nga Sô...
Sau đây chúng tôi xin trích dẫn lại một số trường hợp điển hình nhất và đáng lưu tâm nhất, một số trường hợp mà trong các tài liệu lưu giữ tại trung tâm nghiên cứu về vấn đề tiền kiếp tại Virginia (Hoa Kỳ) đã sếp riêng và đánh dấu hiệu lưu ý vào đó.
Trường Hợp Của Danh Tướng GEORGE S. PATTON
George S. Patton là một danh tướng Hoa Kỳ, một nhà chiến lược kỳ tài mà cả thế giới đều biết. Tánh tình nghiêm khắc và luôn luôn chỉ biết có "kỷ luật sắt, kỷ luật là sức mạnh của quân đội". Con người hùng ấy lại có một bộ óc lạ lùng là luôn luôn tin vào thuyết luân hồi. Ông thường bảo: "Cuộc đời và cuộc sống là cái vòng tuần hoàn chuyển tiếp nhau. Ðời tôi cũng nằm trong cái vòng tuần hoàn chuyển tiếp nào đó."
Một sĩ quan cao cấp đã kể lại câu chuyện có thật về tướng Patton như sau: "Hôm đó tướng Patton đến thăm một vùng đất lịch sử tại Ý. Ðó là vùng đất nằm cạnh sông Métaure, nơi mà xưa kia, trong trận chiến hãi hùng giữa Carthage và Rome với những đoàn quân dũng mãnh của hai phe đã để lại trên chiến trường hàng ngàn tử thi đẩm máu, mặc dầu hai bên đều đã được chiến lược gia, những danh tướng điều khiển. Hình ảnh hùng tráng rùng rợn ấy đã đi vào quá khứ, và cách thời đại của tướng Patton đến hơn 1800 năm, nhưng khi tướng Patton cùng các tướng lãnh và một số quan chuyên về sử học tháp tùng đến thăm vùng đất này, và thử ôn lại những chiến thuật và chiến lược của trận đánh ấy thì điều kỳ dị mới sẩy ra. Nhân lúc một Ðại Tá trình bày những nơi đóng quân của hai phe Carthage và Rome cho tướng Patton nghe thì ông này nhiều lần tỏ ý không hài lòng. Sau cùng tướng Patton cắt ngang lời viên Ðại Tá và nói như sau:
"Tôi xin lỗi Ðại Tá, mặc dầu Ðại Tá là chuyên gia nghiên cứu về các trận chiến trong cuộc chiến tranh La Mã nhưng tôi khẳng định rằng đoàn kỵ binh của tướng Hasdrubul lúc bấy giờ (trong trận này) không phải đóng tại địa điểm mà Ðại tá đã trình bày ở vị trí đầu kia. Tôi quả quyết điều này vì một điều rất dễ hiểu là vào thời đó, chính tôi đã có mặt tại đó..."
Và tăng cường cho sự tin tưởng của mọi người có mặt chung quanh ông, tướng Patton nghiêm nét mặt, đưa cao chiếc can cầm ở tay lên chỉ về một địa điểm trước mặt và lập lại câu nói thật chậm rãi, rõ ràng:
"Ðó là đia điểm mà đoàn kỵ binh của Hasdrubul là ở đó và tôi nhắc lại lúc ấy tôi đã ở đó!..."
Trong những lần dừng chân nơi chiến trận hay những lúc nghỉ ngơi, tướng Patto thường nói đến những địa danh và những mặc trận cổ xưa mà ông đã từng có mặt tuy rằng những nơi đó đã đi vào quá khứ xa xăm hay chỉ còn lại trong các bộ sử nơi các thư viện.
Trong nhật ký của mình, tướng Patton thường ghi lại các cảm nghĩ lạ lùng của mình về những gì mà ông gọi là kiếp trước. Có đoạn ông viết:
"Tôi tin là có tiền kiếp và hậu kiếp. Tôi tin, thật sự tôi biết rằng tôi đã có ít nhất là một quãng đời trước đây trong binh nghiệp và hiện nay tôi lại đầu thai lần nữa vào đời binh nghiệp."
Về sau, một hội nghị quốc tế với chủ đề là "ứng dụng của khoa tâm lý học" tổ chức lần thứ 14 vào năm 1961, một nhân vật có tên tuổi là Aldons Huxley đã trình bày trường hợp của tướng Patton cùng câu chuyện lạ kùng xẩy ra trong lần đi thăm chiến trường cổ xưa La Mã ấy. Trường hợp này đã được báo Paris Match đăng tải và bình luận vào ngày 23 tháng 3 năm 1989. Trong lần diễn đàn này, Aldons Huxley đã phát biểu như sau: "Không riêng gì tướng Patton mà ngay cả chúng ta đây, đôi lúc ở những thời điểm nào đó trong đời bỗng ta có cái cảm giác, cái suy nghĩ, cái nhìn kỳ lạ mà ý thức của chúng ta như bỗng nhiên hé mở, có khi ta bắt gặp một hình ảnh, một sinh hoạt, một tiếng nói, một cảnh tượng, một con người mà hình như ta có lần đã thấy, đã nghe, đã ở, đã đi qua, mặc dầu trong cuộc đời chưa bao giờ gặp. Ðó là quá khứ, quá khứ ấy không phải trong một cuộc đời hay nói khác đi là trong "một kiếp" mà là trước đó nữa. Cảm nhận ấy đôi khi vượt ra khỏi cái cảm nhận của giác quan thông thường ở mỗi con người chúng ta để đi về quá khứ xa xăm hay có thể gọi là tiền kiếp.
(Dân trí) - Người phụ nữ ấy quả quyết rằng: con trai bà đã “trở lại” trong hình hài của cô con gái mới sinh. Thậm chí bà còn biết trước thời khắc hai mẹ con đoàn tụ: ngày bé gái chào đời chính là ngày sinh nhật của người anh trai cách đây 2 năm đã treo cổ tự vẫn trước nhà. Olga Leonicheva vẫn nhớ như in cảnh tượng kinh hoàng xảy ra trong một ngày mùa hè 2 năm trước: thi thể của Dmitriy - đứa con trai đầu lòng 19 tuổi của bà - lơ lửng dưới sợi dây thường ngay ngưỡng cửa ra vào. Không một ai, kể cả bạn bè, người thân, biết nguyên nhân dẫn đến vụ tự sát. “Thằng bé đem theo bí mật xuống mồ. Nó thậm chí còn không để lại cho mẹ một lời nhắn”. Năm 17 tuổi, Olga kết hôn và nhanh chóng sinh hạ bé trai Dmitriy. Cuộc hôn nhân đầu không trọn vẹn, hai vợ chồng ly dị nhau và cô được quyền nuôi con. Không lâu sau đó, cô làm đám cưới với người chồng thứ 2 và có thêm cậu con trai Vladik. Mặc dù vẫn rất yêu thương, quấn quýt mẹ nhưng chưa bao giờ, Dmitriy tỏ ra hòa hợp với cha dượng và người em cùng mẹ khác cha. Cậu bé luôn có tính khí thất thường, lúc nào cũng cô lập mình với chúng bạn. Tốt nghiệp trung học, chàng thanh niên gia nhập quân đội phục vụ tận miền Viễn Đông. 2 năm trong cuộc sống quân nhân hà khắc, việc thường xuyên bị đánh đập khiến cho tai trái Dmitriy bị hỏng hoàn toàn. Không chịu đựng nổi, anh chàng đào ngũ về nhà trong tâm trạng bế tắc và tuyệt vọng. Bà Olga đành phải bán chiếc xe hơi - tài sản đáng giá nhất của gia đình - để “chạy chọt” cho cậu con trở lại cuộc sống bình thường. Trước khi xảy ra vụ tự sát, bà Olga tuyệt nhiên không nhận thấy cậu con trai có biểu hiện gì khác lạ. Hôm đó hai vợ chồng có việc đi xa, rồi đột nhiên linh cảm mách bảo bà phải quay trở về tức tốc, nhưng rốt cuộc cũng đã quá muộn… Mất đi con trai, người mẹ đau khổ đã 2 lần tìm cách quyên sinh - một lần vào cái đêm sau đám tang và lần thứ 2 vào đúng hôm giỗ tròn 40 ngày. Cũng kể từ lúc đó, bà bắt đầu mơ những giấc mộng mị kỳ quái về Dmitriy. Họ bàn nhau về “ngày trở lại” và Dmitriy hứa với mẹ rằng, 2 năm nữa cậu nhất định sẽ tái sinh. Dmitriy cũng nói thêm: lần này, cậu sẽ là con gái. Quả thật 1 năm sau, bà Olga mang thai bất chấp tuổi 40 muộn mằn. Biết tin, họ hàng người thân, kể cả ông chồng cũng thuyết phục bà bỏ đi đứa bé. Olga khăng khăng không chịu, bà tin rằng, đây là cách duy nhất có thể đưa cậu con trai đầu lòng trở về. Bác sĩ khoa nhi chẩn đoán bé gái sẽ chào đời ngày 15 tháng 1, nhưng người mẹ thì quả quyết bà sẽ sinh vào đúng ngày 26 tháng 1 - ngày sinh nhật của Dmitriy, và thực tế chứng minh đúng như lời tiên đoán. Thêm một trùng hợp kỳ lạ, bà đỡ cho bé Kseniya hôm ấy cũng chính là người 21 năm trước đã đón Dmitriy chào đời. Điều này càng khiến bà Olga tin tưởng rằng linh cảm của mình là đúng. Ca sinh nở không gặp nhiều trở ngại, mẹ tròn con vuông. Mặc dù bé Kseniya không mang điểm nào giống Dmitriy đặc biệt, bà Olga vẫn khẳng định có bóng dáng của Dmitriy qua đôi mắt của cô con gái. (Dân trí) - Vợ chồng anh Chaudhary sống tại thành phố Ahmedabad (Ấn Độ) là một trong những cặp cha mẹ may mắn nhất thế giới. Năm 2005, họ đau đớn trước cái chết của con trai nhưng đúng một năm sau họ lại chào đón cậu bé từ cõi chết trở về. Khi phóng viên có mặt tại ngôi nhà của anh Chaudhary ở thị trấn Thaltej, cậu bé Rakesh, 2 tuổi đang líu lo chỉ trỏ chỗ đỗ xe ô tô cho bố khi anh lùi xe vào trong sân nhà. Anh Chaudhary không giấu nổi niềm vui và tâm sự: “Cháu vừa từ cõi chết trở về với tôi”.
Ngày 29/04/2005 là một ngày u ám đối với gia đình anh Chaudharys. Cậu con trai Rakesh (13 tuổi) ngồi sau xe máy do anh trai Kuldip (16 tuổi) đèo đến lớp học. Xe bị trượt bánh và đổ, 2 anh em bị văng xuống đường. Kuldip chỉ bị vài vết thương nhẹ do đội mũ bảo hiểm, còn Rakesh bị chấn thương rất nặng ở đầu và rơi vào hôn mê. Cậu bé qua đời 5 ngày sau đó. Ngày 3/5, một vài giờ trước khi Rakesh qua đời, anh Chaudhary phải vội vã rời bệnh viện về nhà để chăm sóc vợ, cô Maniben, vì vợ anh bắt đầu gặp ảo giác, thậm chí thuốc giảm đau cũng chẳng có tác dụng gì. Cô Maniben nói với chồng rằng Rakesh đang đứng trước mặt mình và muốn nói lời từ biệt mẹ. Rakesh (trái, ảnh chụp năm 1994) qua đời ngày 3/5/2005 và Rakesh (phải), 2 tuổi chào đời ngày 22/4/2006. Cậu con trai xấu số hứa sẽ quay trở lại nếu cô nở một nụ cười từ biệt. Cô Maniben vật vã khóc. Cuộc đối thoại giữa 2 mẹ con diễn ra khoảng 1 giờ, trước đó anh Chaudhary đã cố gắng trấn tĩnh vợ và thuyết phục cô chia tay con trai. Lúc đó là 7 giờ 35 phút tối, đúng một vài phút sau, bệnh viện gọi điện thông báo cho anh Chaudhary rằng Rakesh đã trút hơi thở cuối cùng. Ngày 22/4/2006, cô Maniben sinh hạ được một bé trai, họ cũng đặt tên con là Rakesh. Rakesh và người anh quá cố giống nhau như hai giọt nước, điều đặc biệt là cả 2 đều cư xử y hệt như nhau.
Cậu biết nơi anh trai Rakesh để đồ chơi, biết hộp thuốc của gia đình ở vị trí nào trong nhà. Không những thế, Rakesh có thể nhận ra những người họ hàng mà cậu chưa bao giờ gặp và gọi chính xác tên từng người.
“Khi chúng tôi đưa Rakesh về thăm lại ngôi làng nơi tôi đã chôn rau cắt rốn ở Palanpur, Rakesh bất ngờ gọi to Anila - tên cháu gái tôi. Anila là bạn chơi của Rakesh trước kia. Theo một bản năng nào đó giống anh trai, Rakesh chạy đến một cái cây đặc biệt ở trang trại của tôi. Tôi rất biết ơn Chúa đã trao trả lại Rakesh cho chúng tôi”, anh Chaudhary nói. Đàm Loan
Hiện tượng đầu thai
Theo Times of India
Chết lâm sàng là một trong những bí ẩn lớn nhất mà khoa học hiện đại hiện chưa có lời giải đáp. Sau khi chết lâm sàng, một số người cho rằng họ có thể nhớ được cuộc sống đã từng có trước kia và có thể mô tả được họ đã nhìn thấy gì và làm gì khi họ tồn tại trong một thân xác khác từ hàng trăm, thậm chí hàng nghìn năm trước.
Irina Lakoba, một trong những bệnh nhân của bác sĩ Vladimir Zatovka, trưởng khoa hồi sinh Bệnh viện Kaliningrad (Nga) đã bị hôn mê sâu trong vòng 1 tháng sau một tai nạn giao thông. Trước khi gặp tai nạn, người phụ nữ này là một kỹ sư làm việc tại công ty đánh bắt cá lớn trong suốt 20 năm. Nhưng khi hồi tỉnh, người phụ nữ này trở thành một người hoàn toàn khác. Bà nói rằng bà thấy mình là một cô bé con đứng trên bờ sông và thậm chí bà còn nói bằng một thứ tiếng lạ. Các chuyên gia trường ĐH Kaliningrad cho biết đó là một trong những thổ ngữ Swahili. Sau đó, bà còn đọc một vài đoạn thơ bằng thứ ngôn ngữ này và dịch chúng sang tiếng Nga, tiếng Anh và tiếng Pháp, những ngôn ngữ mà trước tai nạn bà chưa bao giờ biết đến. Điều kỳ lạ hơn nữa là chỉ ngay trước khi Irina hồi tỉnh từ cơn hôn mê sâu, bác sĩ đã nói chuyện với chồng bà. Họ ngồi trong một căn phòng cách nơi bà Irina nằm là 2 tầng. Thế nhưng khi tỉnh lại, bà đã kể lại chính xác hai người đã nói những gì. Ngoài ra, bà còn miêu tả những sự việc đã xảy ra khi bà còn hôn mê. Bà nói đã nhìn thấy và nghe thấy mọi thứ vì bà vẫn có thể đi lại trong bệnh viện. Thậm chí bà nói đã nhìn thấy mình đang nằm trên giường bệnh và đã "sốc" khi thấy mình... già và xấu xí. Bà cũng cho biết, khi đi dạo quanh bệnh viên, bà là một cô gái nhỏ và hoàn toàn khỏe mạnh. Bà Annel Besier, người Pháp nói rằng bà có thể hồi tưởng lại cuộc sống trong quá khứ và đã viết một cuốn sách về nó. Olga Kuleshova 37 tuổi biết rõ rằng 37 năm trước khi cô ra đời, cô đã từng là một nghệ sĩ violon sống tại Anh (hiện cô vẫn nắm được kỹ năng chơi violon dù chưa qua trường lớp nào). Olga còn nói rằng, 200 năm trước, cô là tỳ thiếp của vua Thổ Nhĩ Kỳ và Mechelangelo ở Italy thời Trung cổ là giám hộ của cô về môn họa... Tất nhiên, những lời cô nói có đúng hay không thì không có một bằng chứng nào xác thực để chứng minh. Nhận xét về những trường hợp này, các bác sĩ cho rằng đó là một trong những trường hợp đầu thai vẫn lưu truyền trong dân gian. Những người theo chủ nghĩa bí truyền, đạo Hindu và Phật giáo luôn cho rằng cái chết không phải là sự kết thúc mà là điểm bắt đầu của con đường đến với thế giới cực lạc cho linh hồn vĩnh cửu. Trong nhiều thập kỷ, niềm tin này bị coi là mê tín, hoang đường nhưng giờ đây đang hình thành một quan niệm khoa học dần từng bước thu hút được nhiều người ủng hộ. Chuyên gia nghiên cứu về hiện tượng tái sinh học người Mỹ Raymond Moody đã mất 30 năm để viết những cuốn sách về "cuộc sống sau khi chết" trước khi ông thuyết phục được phần lớn độc giả tin rằng việc tim và não ngừng hoạt động không có nghĩa là người đó đã chết. Những bệnh nhân hồi tỉnh sau trạng thái chết lâm sàng kể lại những câu chuyện giống nhau: họ nhìn thấy ánh sáng cuối đường hầm, những người thân đã chết kể cho họ về cuộc sống mới và một thế giới tốt đẹp hơn. Moody và những người ủng hộ đã thu thập hàng trăm chứng cứ loại này; mọi câu chuyện do các bệnh nhân kể đều trùng hợp tới từng chi tiết nhỏ - điều đó chứng tỏ những câu chuyện này không thể là giả mạo. Kết luận do Moody đưa ra làm mọi người hy vọng sự bất tử là có thực, nhưng ý niệm này gặp không ít phản đối. Giáo sư tâm thần học nổi tiếng Stanislav Grof là người chỉ trích gay gắt kết luận của Moody. Ông thực hiện hàng loạt thí nghiệm với những bệnh nhân sau trạng thái chết lâm sàng và kết luận: đường hầm mà nhiều người nhìn thấy trong lúc chết lâm sàng chính là hình ảnh khi đứa trẻ đi qua một kênh sinh nở dài và hẹp, vì vậy ánh sáng mà bệnh nhân nhìn thấy cuối đường hầm chính là phòng sản nơi chúng ra đời. Và kết quả thật bất ngờ khi một người chưa bao giờ rơi vào trạng thái chết lâm sàng cũng nhìn thấy đường hầm tương tự khi được Giáo sư Grof làm thí nghiệm thôi miên... Nhà vật lý Paul Kurtz, nhà sinh lý học Jack Kowan và nhà thần kinh sinh học Elizabeth Clark cho rằng hình ảnh đường hầm được tạo ra tại những phần vỏ não đang hấp hối có chức năng điều khiển thị giác. Điều này xảy ra khi có hiện tượng thiếu hụt oxy tại các tế bào đang chết và kết quả là các đợt sóng kích thích tạo thành các vòng tròn đồng tâm. Chúng ta có thể nhìn thấy những vòng tròn này khi lặn dưới nước quá lâu hoặc khi lộn đầu xuống đất. Phần ý thức đang bị chết ở con người nhìn thấy nhiều vòng tròn kéo dài thành một đường hầm. Các nhà nghiên cứu theo chủ nghĩa duy vật khẳng định tất cả chỉ là sự tưởng tượng và đó là giấc mơ của người bệnh trong lúc hôn mê. Tuy nhiên, chính các chuyên gia này cũng không thể lý giải tại sao ở những bệnh nhân não không hoạt động mà họ vẫn nhìn thấy hình ảnh đường hầm, ánh sáng chói lòa và người thân đã chết. Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Nga Clail Kaznacheyev cho rằng hiện tượng đầu thai không còn là điều đáng nghi ngờ bởi có rất nhiều thông tin xác nhận. Đáng tiếc là chưa có giả thuyết nào có thể giải thích một cách thỏa đáng, cũng như chưa có bất kỳ giả thuyết khoa học nào về hiện tượng kỳ bí này. Theo QT, Prevada, vdcmedia
Luân hồi vói nhân chứng Việt Nam
Năm 1974 gia đình chị Lê Thị Khanh H. tổ chức lễ cưới cho chị rất linh đình tại một khách sạn lớn ở Sài Gòn. Hai vợ chồng chị đi Ðà Lạt để hưởng tuần trăng mật. Trên đường xe chạy đến Ðà Lạt chồng chị là anh L., một sĩ quan không quân, cứ nhắc đi nhắc lại một câu chuyện thật lạ lùng: "Ðây là lần cuối cùng tụi mình đến Ðà Lạt chơi". Chị Khanh H. bảo chồng đừng nói câu kỳ quặc đó nhưng anh ta cứ nói và còn bảo: "Em à! Lần đầu và lần cuối em à!"
Ngày trở về trong khi xe đang chạy thì tự nhiên một chiếc xe chở củi lớn ở bên đường chạy ra khiến chiếc xe chở hai vợ chồng chị Khanh H. phải quặt tay lái và lăn xuống cái dốc gần đó. Lạ lùng thay, chiếc xe chỉ nằm vắt ngang một thân cây to lớn ở sườn đồi. Chị Khanh H. không hề gì, chỉ xây xát mình mẩy nhưng người chồng chị lại bị thanh sắt ở phía trước đập mạnh vào phía lá gan nên bất tỉnh. Xe cứu thương cấp tốc chở hai vợ chồng về bệnh viện Sài Gòn. Bác sĩ cho biết anh L. khó sống, chỉ hy vọng còn chống chọi với tử thần độ một tuần lễ là nhiều. Chị Khanh H. khóc đến gần hết nước mắt. Chị không ngờ câu nói lạ lùng của người chồng mới cưới lại là một sự thật. Phải chăng đó là oan nghiệt, khổ đau, nghiệp chướng hay ma quỷ nhập?
Trong khi đó, anh L. khi tỉnh khi mê. Trước khi anh qua đời độ 3 ngày, tự nhiên anh L. tươi tỉnh hẳn lên, ngồi dậy ăn được và anh đòi ăn cháo cá. Trông anh có vẻ sảng khoái, vui vẻ, anh nắm tay chị Khanh H. và nói say sưa:
- Anh không chết đâu, em đừng lo. Mà nếu anh có chết thì chỉ có thể xác anh chết mà thôi vì anh sẽ quay về với em, sống với em mãi mãi. Tại sao chúng mình mới sống với nhau đã vội chia tay, tại sao lại có điều vô lý đắng cay đó?
Nói xong một hơi dài thì anh L. lại có vẻ mệt mỏi trở lại.
Ngày 10 tháng 12 năm 1974 lúc 1 giờ sáng, anh L. đang nằm thiêm thiếp bỗng ngồi nhỏm dậy nhìn quanh. Chị Khanh H. hốt hoảng chạy lại đỡ anh và hỏi:
- Sao anh trở dậy làm gì: Anh đi tiểu phải không?
Anh L. lắc đầu nói:
- Anh sắp xa em rồi. Nhưng em cứ tin tưởng rằng anh sẽ trở lại với em trong một thời gian không lâu. Lúc đó tuy em không thấy anh nhưng chính anh là người đó, anh quyết tâm thực hiện điều anh mong ước..."
Nói xong câu đó, anh L. từ từ nằm xuống có vẻ mệt lả và khoảng 4 giờ sáng thì anh trút hơi thở cuối cùng.
Chị Khanh H. khóc ngất và bất tỉnh nhiều lần tại bệnh viện. Người nhà và chính các y tá, bác sĩ ở bệnh viện đều biết về câu chuyện lạ lùng này, và ai cũng khuyên chị tin tưởng vào lời trăn trối của anh L..
Cha của chỉ Khanh H. là một người có đạo không tin chuyện đầu thai Luân Hồi nhưng mẹ của chị lại tin rằng người con rể của bà sẽ đầu thai trở lại.
Thời gian thấm thoát đã một năm qua. Năm 1975 người em gái của chị Kh. lên xe hoa về nhà chồng, và đến năm 1976 thì hạ sinh một cháu gái. Ðiều kỳ lạ là cháu bé này rất khôn ngoan. Mới 3 tuổi mà cháu đã nói được những câu như người lớn với lý luận rất rõ ràng. Chị Khanh H. cho biết tháng 3 năm 1980 chị quyết định vượt biên cùng với hai vợ chồng người em gái của chị.
Hôm chuẩn bị đồ đạc để đi, bỗng nhiên cháu bé nói cho cả nhà nghe:
- Nhớ đừng quên đem nước theo, tháng này đi biển êm nhưng thiếu nước cũng chết.
Nói xong cháu chạy vào phòng chị Khanh H. lấy cái bi đông nước của quân đội ra đưa cho chị Khanh H. và nói:
- Ðây là cái biđdông nước mà ngày xưa mình thường dùng khi về quê chơi chắc không ai còn nhớ. Vật kỷ niệm của mình mà. (Cái bi đông nước này là của anh L. mang về nhà)
Mọi người trong nhà đều ngạc nhiên. Riêng chị Khanh H. thì cảm thấy như có một luồng điện lạnh chạy từ chân tới đầu chị. Chị tự hỏi: Phải chăng anh L. đã đầu thai vào làm cháu gái của chị?
Mấy ngày sau có tin công an đi điều tra về vụ tổ chức vượt biên trong phường khiến mọi người lo sợ. Do đó, vợ chồng người em gái không dám vượt biên nữa. Trong khi chị Khanh H. vẫn giữ lập trường cương quyết. Một hôm, gần ngày lên đường, cháu bé chạy lại nói:
- Ðừng có lo, công an đi kiểm soát là mưu mô đó thôi, như vậy càng dễ đi, nếu không ai đi, cháu đi.
Vừa nói cháu vừa chuẩn bị đồ đạc cùng với chị Khanh H., cử chỉ chững chạc như người lớn.
Hôm xuống ghe hai vợ chồng của người em gái chị Khanh H., cứ ngập ngừng lo sợ, cuối cùng khi bước xuống ghe chỉ có chị và cháu bé đi thôi.
Khi ghe được kéo vào đảo Bi Ðông nằm trên cát tự nhiên cháu bé nói với chị Khanh H. giọng như người lớn:
- Nằm đây mà nhớ lại ngày xưa mình cùng nằm ngắm trời mây ở Vũng Tàu. Tự nhiên chị Khanh kinh ngạc, tại sao cháu bé lại nói điều kỳ lạ, chưa bao giờ bé đến Vũng Tàu. Vậy đó là lời nói của ai? Có phải là của chồng chị không? Vì kỷ niệm ấy không bao giờ phai trong trí chị, những ngày chưa cưới, chị và L. thường về Vũng Tàu nằm trên bãi cát ngắm biển và trời mấy. Khi qua Hoa Kỳ, càng ngày bé càng có những lời nói, cử chỉ hoàn toàn giống như chồng của chị Khanh H. ngày nào. Cho đến nay chị vẫn còn sống độc thân. Chị coi cháu gái ấy là nguồn sống độc nhất của chị, là niềm hy vọng của chị và cũng là toàn bộ những kỷ niệm của người chồng đáng thương của đời chị.
***Chị Khanh H. hiện giờ đang ở tại Florida với đứa cháu gái của chị.
Đầu thai (luân hồi chuyển kiếp) là một niềm tin được tìm thấy trong các triết lý tôn giáo lớn của Ấn Độ, bao gồm Yoga, Phật giáo, đạo Jain và một số tôn giáo khác.
Trong khái niệm đầu thai, một tính cách mới được phát triển trong mỗi kiếp sống mới trong thế giới loài người, dựa vào các kinh nghiệm tích lũy từ các kiếp sống trước và những kinh nghiệm mới đạt được trong kiếp sống hiện tại, nhưng cá tính của người đó vẫn là không đổi trong suốt các kiếp sống kế tiếp nhau. Người ta tin rằng có sự tương tác của những sự sắp đặt trước của một số kinh nghiệm sống nào đó, hay là những bài học được dự định là sẽ xảy ra trong kiếp sống đó, và những hành động tự chọn bởi chính bản thân người đó trong khi họ đang sống kiếp đó.
Khái niệm chung Niềm tin vào sự đầu thai là một hiện tượng có từ thời cổ đại; trong nhiều hình thức khác nhau, từ thời Ai Cập cổ đại, hay có lẽ là trước đó, con người đã tin vào một cuộc sống tương lai sau khi chết. Các ngôi mộ cổ chứa đựng cả người và của cải có thể là bằng chứng cho niềm tin rằng người đó có thể lại cần đến những thứ của cải đó mặc dù đã chết một cách vật lý. Nói vắn tắt, có một số quan niệm phổ biến về một dạng sống trong tương lai. Trong mỗi quan niệm đó, hoặc là người đó hoặc là một thành phần cốt yếu định rõ người đó (linh hồn hay tinh thần) vẫn tiếp tục tồn tại: - Đầu thai dưới dạng con người.
- Nhiều kiếp sống kế tiếp nhau trên mặt đất, thông thường bao gồm cả một niềm tin về việc đi vào thế giới tâm linh hoặc là các tầng tồn tại giữa sự chết và tái sinh. Đây là dạng thông thường của đầu thai (cũng được gọi là "tái sinh"). Trong nhiều phiên bản, cuối cùng có một tiềm năng thoát khỏi vòng luân hồi, chẳng hạn như bằng cách hợp nhất vào với Chúa trời, hoặc là đạt được sự khai sáng, một dạng của việc tự nhận thức, một sự tái sinh tâm linh, đi vào cõi tâm linh v.v..
- Người ta chết đi, và trở lại dạng tồn tại này dạng tồn tại khác một cách liên tục, dạng của họ khi trở lại có thể ở loại 'cao hơn' hay 'thấp hơn' phụ thuộc vào hạnh kiểm (đạo đức) của họ trong kiếp sống hiện tại. Niềm tin này có giả thiết sự chuyển đổi giữa linh hồn người và động vật, ở tầng thấp nhất có thể bao gồm cây cỏ và đất đá.
- Người ta chỉ sống một đời. Sau khi chết, họ có thể quay lại trần gian hoặc là được làm sống dậy trong Ngày phán xét cuối cùng nào đó, hoặc là tại một trận chiến cuối cùng nào đó (ví dụ trận Ragnarök trong thần thoại Bắc Âu). Sau đó, họ có thể lên thiên đàng hoặc địa ngục, hoặc tái tinh trở lại trên mặt đất. Niềm tin này là một viễn ảnh khải huyền của tương lai.
- Các niềm tin vào Cuộc sống sau khi chết(Afterlife) cũng liên quan đến các niềm tin trên, nhưng không bao gồm việc quay trở lại với một dạng thể xác.
- Người ta sống trên mặt đất này, và sau đó sống trong một dạng cuộc sống sau khi chết nào đó trong suốt phần còn lại của vĩnh cửu tại một nơi được gọi bằng nhiều cách khác nhau là thiên đàng (hoặc địa ngục), âm phủ hoặc trời, hay những thứ tương tự. Họ không quay trở lại trần gian.
Những niềm tin về sự đầu thai hay luân hồi được phổ biến rộng rãi trong các tôn giáo và đức tin. Một số người xem đó là một phần của tôn giáo, và những người khác thấy đó chỉ là một câu trả lời cho các câu hỏi thường gặp về đạo đức và sinh tồn, như là "ý nghĩa của cuộc sống", "tại sao chúng ta lại ở đây", hay là "tại sao những điều xấu đôi khi dường như là xảy đến với người tốt". Quan niệm về sự đầu thai cho rằng một người đã ở hay là sẽ trở lại thế gian này trong một thể xác khác. Điều này gợi đến một sự kết nối giữa những cuộc đời có vẻ không liên quan đến nhau, và (trong đa số các trường hợp) có thể có bằng chứng ẩn giấu về sự nối tiếp giữa cuộc đời của những người khác nhau, nếu được tìm kiếm. Những người ủng hộ thuyết này cho rằng thực tế là như vậy, trong khi những người chỉ trích có xu hướng bác bỏ điều này do những ẩn ý về mặt siêu hình của nó hay do việc nó chưa được khoa học chấp nhận với lý do là các cách giải thích khác của hiện tượng chưa được loại trừ một cách hoàn toàn. Các bằng chứng cho việc đầu thai thiên về ba loại: - Truyền thống chung tin rằng một số người (như là Đạt-lại Lạt-ma hay Ban-thiền Lạt-ma của Phật giáo) có thể được xác định bằng cách đi tìm một đứa bé ra đời vào thời điểm những nhân vật đó qua đời, và bằng một số dấu hiệu và kiến thức đặc biệt mà đứa trẻ đó có được về người tiền nhiệm. Trong trường hợp của Phật giáo, có những thử nghiệm được định nghĩa rõ ràng cho việc xác định một đứa bé như vậy.
- Trong văn hóa phương Tây, hồi tưởng tiền kiếp (past life regression) hoặc kinh nghiệm cận tử (near-death experience) đã có lần cung cấp những thứ được cho là ký ức của những kiếp sống trước, một số trong đó về lý thuyết là có thể kiểm chứng được, và một số khác có thể kiểm nghiệm rằng chỉ là bịa đặt. Một số khía cạnh của những trải nghiệm này có xu hướng thống nhất theo một cách nào đó (những thực thể ánh sáng beings of light, những thông điệp bình an và đầy tình yêu, v.v.), với một số người thì một yếu tố đã đem lại sự tin tưởng, còn với một số người khác thì đây là yếu tố hỗ trợ cho tư tưởng rằng có "một thứ gì đó" xảy ra nhưng không chắc chắn được đó là điều gì.
- Cuối cùng, đối với nhiều người, bằng chứng là nội tại và mang tính thực nghiệm, niềm tin hay kinh nghiệm cá nhân. Điều này có không thể không phải là một chứng minh, nhưng đối với họ, như vậy là đủ để tin vào điều đó.
Mặc dù một số người cho là một số sự kiện nhớ lại kiếp sống trước đã được ghi chép lại và thử nghiệm một cách khoa học, khoa học chưa chính thức chấp nhận đầu thai như là một hiện tượng chứng minh được
Khái niệm đầu thai trong tôn giáo phương Đông
Ấn Độ giáo Ở Ấn Độ ý tưởng về sự đầu thai được giới thiệu lần đầu tiên trong Áo nghĩa thư (Upanishad) (c. 800 TCN - ), là những bản kinh về triết lý và tôn giáo được viết bằng tiếng Phạn. Học thuyết về sự đầu thai là không có trong bộ kinh Vệ Đà, nhìn chung được xem là bộ kinh cổ xưa nhất của Ấn Độ. Ấn Độ giáo quan niệm rằng linh hồn (của bất kì thể sống nào - bao gồm muôn thú, con người và cây cỏ) đầu thai có liên hệ một cách phức tạp với nghiệp(karma), một khái niệm khác lần đầu được giới thiệu trong bộ Áo Nghĩa thư. Nghiệp (nghĩa đen là hành động) là tổng của các hành động của một người, và là lực sẽ quyết định sự đầu thai kế tiếp của người đó. Vòng xoay của việc chết và tái sinh, được điều khiển bởi nghiệp, được gọi là luân hồi (samsara). Những ý tưởng về đầu thai, nghiệp, và luân hồi đều được tìm thấy trong Ấn Độ giáo, Phật giáo, đạo Jain và đạo Sikh. Trong tất cả các truyền thống tôn giáo này, sự cứu rỗi cuối cùng là sự giải thoát (moksha hay là mukti) khỏi vòng luân hồi của việc chết đi và tái sinh. Trong Phật giáo, sự giải thoát này thường được nhắc đến như là niết bàn (nirvana). Các truyền thống Bhakti (sùng kính) khác xem việc giải thoát khỏi luân hồi như là sự bắt đầu của một đời sống tâm linh thật sự, tiếp tục vượt lên trên cả niết bàn và tự do khỏi cõi trần tục. Khái niệm niết bàn được phổ biến rộng hơn (xem Phái Bất Nhị (Advaita Vedanta)]]) theo sau sự hiện diện của nhà hiền triết Ấn Độ giáo vĩ đại Adi Shankaracharya. Đối với một số trường phái Ấn Độ giáo, quan niệm rằng việc làm lắng đọng các nghiệp của một người và trở nên hài hòa cuối cùng sẽ giải thoát người đó khỏi sự đầu thai là một giáo lý trung tâm. Theo quan điểm của Ấn Độ giáo, đầu thai không thể giống như sự xuất hiện trở lại của linh hồn hay một người ở trong một cơ thể vật chất, mà đúng hơn là cảm nhận về thế giới chỉ tồn tại như một biểu thị xung quanh nhận thức, và điều này chỉ được duy trì như là một hành động của tâm thức. Theo Adi Shankaracharya, thế giới như chúng ta thường nhận biết nó chỉ là một giấc mơ: phù du và viển vông. Bị kẹt lại trong Luân hồi là kết quả của sự thiếu hiểu biết về bản chất thực sự của sự sinh tồn.
Phật giáoPhật giáo chấp nhận thuyết luân hồi (samsara), quá trình của việc tái sinh; tuy nhiên, vẫn còn có những tranh luận về thứ gì được tái sinh. Thêm vào khái niệm vô ngã, Phật giáo Tây Tạng tin rằng một đứa trẻ mới ra đời có thể là tái sinh của một vị Lạt-ma quan trọng nào đó vừa mới qua đời. Trong Phật giáo Tây Tạng, những chất liệu làm nên bản ngã nhất thời (ngũ uẩn - skandha) của một Lạt-ma quan trọng (như vị Đạt-lại Lạt-ma) được cho là tái sinh vào một trẻ sơ sinh sinh ra chín tháng sau khi vị Lạt-ma đó qua đời. Quá trình này được cho là xảy ra sau nhiều năm kết tinh ngũ uẩn qua tu tập. Và người ta nói rằng, sau khi thể xác chết, một phần của ngũ uẩn đã kết tinh (cái mà thông thường sẽ tan rã khi chết) sẽ tự gắn vào với ý thức. Nhờ đó, khi tái sinh, con người mới sẽ có một phần tính cách cũ. Tuy nhiên, niềm tin này không mâu thuẫn với những lời dạy của Phật về bản chất nhất thời của bản ngã. Phật đã nói như sau về việc tái sinh. Kutadanta, (một vị Bà La Môn thông bác kinh điển Phệ Đà là đệ tử của Phật) nói: "Ngài tin rằng, thưa Thế tôn, chúng sinh được tái sinh; rằng họ sẽ di chuyển trong sự tiến hóa của cuộc đời; và họ phải theo quy luật của nghiệp chúng ta phải thu kết quả mà chúng ta đã gieo. Thế nhưng ngài dạy rằng linh hồn không tồn tại! Những đệ tử của ngài ca tụng sự dập tắt ham muốn là hạnh phúc cao nhất của cõi Niết bàn. Nếu như tôi chỉ đơn thuần là tổ hợp của các luân hồi, sự tồn tại của tôi sẽ chấm dứt khi tôi chết. Nếu tôi chỉ là một hỗn hợp của các cảm giác ý nghĩ và ham muốn, tôi sẽ đi về đâu khi thân thể đã tan biến?" Đức Phật trả lời: "Ô Brahman, ông là người ngoan đạo và nhiệt tình. Ông lo lắng một cách nghiêm túc về linh hồn của mình. Thế nhưng công sức của ông là vô ích bởi vì ông thiếu một thứ mà ông cần." "Có sự tái sinh của tính cách, nhưng không có sự luân hồi của bản thân. Những dạng ý nghĩ của ông sẽ tái xuất hiện, nhưng không có sự luân chuyển của bản ngã. Bài thơ được thốt lên bởi người thầy sẽ được tái sinh trong một học giả lặp lại những lời đó. |
|