Yêu cầu Tướng Khánh trả lời trước lịch sử (Lữ Giang) In E-mail
Hiện nay Đại Tướng Nguyễn Khánh, một nhân chứng lịch sử còn lại, vẫn đang khoẻ mạnh và tinh thần minh mẫn, nên chúng tôi viết bài này với ước mong Đại Tướng trả lời trước công luận về một quyết định lịch sử rất quan trọng và chính quyết định này đã đưa Miền Nam vào những cơn khủng hoảng liên tục, và sau đó chấm dứt sự nghiệp của Tướng Khánh, đó là:
Ai đã ra lệnh cho Bộ Tư Pháp soạn thảo và ban hành một đạo luật man rợ, bất chấp các nguyên tắc căn bản của luật pháp, để giết ông Ngô Đình Cẩn và một số người liên hệ đến chế độ Ngô Đình Diệm?
Trước đây, chúng tôi đã có lần hỏi Đại Tướng ai đã ra lệnh nói trên, Đại Tướng trả lời rằng chuyện đó do bên Bộ Tư Pháp làm, ông không hay biết gì hết! Tôi làm trong chính quyền lâu năm, tôi biết rõ không bao giờ một cơ quan cấp bộ tự ý làm một chuyện quan trọng như vậy mà không có lệnh của cấp lãnh đạo quốc gia. DIỄN BIẾN LỊCH SỬ
Sau cuộc “chỉnh lý” ngày 30.1.1964, ngày 31.1.1964, Tướng Nguyễn Khánh lên làm Chủ Tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng kiêm Tổng Tư Lệnh Quân Đội và theo chỉ thị của CIA, loại tất cả các tướng lãnh thân Pháp đã được Mỹ dùng làm công cụ đảo chánh lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm.
Cuộc “chỉnh lý” nói trên, thường được gọi là “Pentagon Coup”, do Tướng Khiêm, một nhân viên CIA (agent) thứ thiệt, chủ động dưới sự chỉ đạo của CIA, còn Tướng Khánh chỉ “ăn có”. Do đó, tài liệu để lại cho thấy, theo sự chỉ đạo của Toà Đại Sứ Mỹ, Tướng Khánh sẽ làm Quốc Trưởng bù nhìn, còn Tướng Trần Thiện Khiêm làm Thủ Tướng nắm thực quyền. Nhưng Tướng Khánh không muốn làm Quốc Trưởng bù nhìn, nên ông quyết định đẩy Tướng Khiêm ra ngoại quốc rồi ông vừa nắm chức Chủ Tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, vừa nắm chức Thủ Tướng.
Ngày 7.2.1964, Tướng Khánh ban hành Hiến Ước Lâm Thời số 2, cử Tướng Dương Văn Minh lên làm Quốc Trưởng bù nhìn và Tướng Khánh làm Thủ Tướng. Ngày 8.2.1964 Tướng Khánh công bố thành phần chính phủ.
Theo quy chế lúc đó, tất cả tổ chức chính phủ, kể cả quốc trưởng, đều nằm dưới quyền của Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng do Tướng Khánh làm Chủ Tịch. Do đó, người lãnh đạo tối cao của Miền Nam lúc đó, sau Đại Sứ Mỹ là Tướng Nguyễn Khánh. Vậy phải có lệnh của Tướng Khánh, Bộ Tư Pháp mới soạn ra đạo luật nói trên. TIẾN TRÌNH CỦA LUẬT MAN RỢ
Trước khi nói chuyện tiếp với Tướng Nguyễn Khánh, chúng tôi xin trình bày qua tiến trình hình thành Sắc Luật số Sắc Luật số 4/64 ngày 28.2.1964 thiết lập Tòa Án Cách Mạng và nội dung của sắc luật này.
Sau khi đảo chánh thành công, Tướng Dương Văn Minh không quan tâm gì đến việc giải quyết những vấn đề của quốc gia mà chỉ lo vơ vét. Sau khi “chỉnh lý”, không biết tự mình hay theo lệnh của ai, Tướng Nguyễn Khánh đã cho xúc tiến một cách khẩn cấp thủ tục thanh toán ông Ngô Đình Cẩn và một số nhân vật liên hệ đến chế độ cũ chưa thể giết được trong cuộc đảo chánh ngày 1.11.1963. Nhưng việc giết ông Cẩn và những người liên hệ gặp khó khăn, vì các luật pháp hiện hành lúc đó không cho phép làm như vậy. Do đó, công việc trước tiên là phải hình thành một đạo luật mới, quy định một cách nào đó để có thể đưa ông Cẩn và những người liên hệ ra xét xử và tuyên án tử hình. Đây là một công việc rất phức tạp.
1.- Đưa Giám Đốc Nha Quân Pháp về làm Bộ Trưởng Tư Pháp
Công việc trước tiên là đưa Đại Tá Nguyễn Văn Mầu, Giám Đốc Nha Quân Pháp, lên làm Bộ Trưởng Tư Pháp.
Tại Việt Nam, Bộ Trưởng Tư Pháp thường được chọn trong các thẩm phán cao cấp hay các luật sư lão thành vì hai lý do: Lý do thứ nhất là người ở chức vụ này phải được mọi người kính nể, nhất là giới luật gia. Lý do thứ hai là người đó phải rất am tường về luật pháp và ngành tư pháp. Trường hợp của Đại Tá Nguyễn Văn Mầu là một biệt lệ. Ông ta chỉ chuyên về quân pháp nên không thể nắm vững tình trạng luật pháp rất phức tạp của Việt Nam thời đó được. Cấp bậc của ông ta lại thấp nên bị coi thường. Nhưng Tướng Khánh đã quyết định chọn ông ta vì chỉ có ông ta mới chịu thi hành lệnh của Tướng Khánh, dù trái với các nguyên tắc căn bản của luật pháp. Một thẩm phán cao cấp hay một luật sư lão thành không bao giờ chịu làm như vậy.
2.- Vượt lên trên nguyên tắc căn bản của luật pháp
Theo bộ Hoàng Việt Hình Luật áp dụng tại Trung Phần hay Hình Luật Canh Cải áp dụng tại Nam Phần, nếu truy tố “dư đảng Cần Lao” về các tội như bắt người trái phép, đả thương, tống tiền, kinh tài bất hợp pháp... thì không thể tuyên án tử hình được. Vì vậy, Bộ Tư Pháp được lệnh phải soạn thảo và cho ban hành một văn kiện như thế nào để có thể xử tử hình ông Cẩn và những người liên hệ. Một nhóm luật gia đã được bí mật giao cho phụ trách công tác này.
Dự thảo luật đã đưa ra một số tội phạm mà họ cho rằng ông Ngô Đình Cẩn và “dư đảng Cần Lao” đã vi phạm và ấn định những tội này có thể bị tử hình. Một sự quy định như thế dĩ nhiên là hoàn toàn trái với nguyên tắc bất hồi tố của hình luật (principle of non-retroactive of criminal law), tức hình luật không áp dụng cho những trường hợp xẩy ra trước ngày luật ban hành. Đây là một một nguyên tắc căn bản của hình luật được hầu hết các quốc gia trên thế giới công nhận và áp dụng, kể cả Hoàng Việt Hình Luật và Hình Luật Canh Cải của Việt Nam thời bấy giờ. Nguyên tắc này cũng đã được ghi vào bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và Công Ước Quốc Tế về Quyền Dân Sự và Chính Trị.
Điều 11, đoạn 2, của bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền quy định như sau:
“Không ai có thể bị kết án về một tội hình sự do những điều mình đã làm hay không làm, nếu những điều ấy không cấu thành tội hình sự chiếu theo luật pháp quốc gia hay luật pháp quốc tế hiện hành, mà cũng không bị tuyên phạt một hình phạt nặng hơn hình phạt được áp dụng trong thời gian phạm pháp.”
Điều 15 của Công Ước Quốc Tế về Quyền Dân Sự và Chính Trị quy định:
“Không ai có thể bị kết án về một tội hình sự do những điều mình đã làm hay không làm nếu những điều ấy không cấu thành tội hình sự chiếu theo luật pháp quốc gia hay quốc tế áp dụng trong thời gian khi tội phạm xẩy ra. Cũng sẽ không bị tuyên một hình phạt nặng hơn hình phạt được áp dụng trong thời gian sự phạm pháp xẩy ra. Tuy nhiên, người vi phạm được hưởng sự khoan hồng hơn nếu luật mới ban hành sau ngày phạm pháp ấn định hình phạt nhẹ hơn.”
Mặc dầu có nhiều tranh luận, dự thảo Sắc Luật số 4/64 thiết lập Tòa Án Cách Mạng cũng đã được Tướng Nguyễn Khánh ký và ban hành ngày 28.2.1964. Sắc Luật này đã đưa ra những quy định hoàn toàn trái với nguyên tắc căn bản của hình luật như đã nói trên.
Điều 1 của Sắc Luật quy định:
“Nay thiết lập một toà án Cách mạng có thẩm quyền xét xử trên toàn quốc những tội ác gây ra trong khoảng thời gian từ 26 tháng mười năm 1955 đến 1 tháng mười một năm 1963 bởi những bọn mật vụ, đại kinh tài, viên chức chính quyền cao cấp cùng nhân vật quan trọng dưới thời Ngô Đình Diệm.”
Điều 2 quy định Toà Án Cách Mạng sẽ mở phiên xử đầu tiên trong tháng ba năm 1964, và hoạt động trong thời gian 3 tháng.
Điều 3 quy định 12 tội sẽ bị truy tố trước Toà Án Cách Mạng: gian nhân hiệp đảng; cố sát với trường hợp gia trọng; giết người bằng thuốc độc; tra tấn và phạm trọng tội; cố ý đả thương với mọi trường hợp gia trọng; hiếp dâm với mọi trường hợp gia trọng; bắt giam trái phép; cướp với trường hợp gia trọng; sách thủ tiền tài; đốt hủy sổ bộ, chứng thư, chứng khoán, thương phiếu; hối lộ và hối mại quyền thế, và lũng đoạn kinh tế quốc gia.
Điều 4 định nghĩa lại các yếu tố tội phạm, phần lớn khác với định nghĩa của các điều luật đã áp dụng trước đó:
(1) Gian dâm hiệp đảng: những tổ chức khủng bố bí mật hay công khai;
(2) Đầu độc giết người: tội bắt giam người trong hầm có hơi độc, hay có chất độc hay thiếu không khí, để gây thiệt mạng;
(3) Mưu sát: Tội giết người đối lập về chính trị, việc tra tấn cho đến chết;
(4) Bắt giam trái phép: việc lưu đày một người mà không có án toà và ngoại trừ trường hợp dự liệu bởi Dụ số 6 ngày 11 tháng giêng năm 1956;
(5) Cướp: các việc tịch thu bất hợp pháp;
(6) Lũng đoạn kinh tế quốc gia: việc mang đi hay cho mang ra khỏi xứ, bất cứ bằng cách nào, các giá khoán động sản, giấy bạc Việt Nam, vàng, bạc, ngoại tệ, trái khoán, và bằng khoán; tổ chức kinh tài bất hợp pháp; sang đoạt công nho.
Điều 5 cấm toà án cách mạng không được quyền giảm khinh, cũng như không được phạt án treo.
Điều 15 quy định rằng Toà Án Cách Mạng tuyên án liền sau phiên họp nghị án, không đình hoản. Những án khuyết tịch coi như đương tịch.
Điều 16 cấm các bị cáo không được kháng cáo hoặc thượng tố.
Hầu hết những quy định trên là những quy định mới, không được dự liệu trong các luật lệ đã có từ trước và đã được đem áp dụng để truy tố và xét xử ông Ngô Đình Cẩn và “dư đảng Cần Lao” nên hoàn toàn trái với nguyên tắc bất hồi tố của hình luật. Điều này cho thấy những người đứng đàng sau vụ án đã có quyết tâm giết ông Ngô Đình Cẩn và một số người liên hệ đến chế độ cũ bằng mọi giá.
Sau vụ này, trong các sách giáo khoa ở trường luật, các giáo sư thường nêu lên Sắc Luật số 4/64 ngày 28.2.1964 như một văn kiện điển hình vi phạm nguyên tắc bất hồi tố của hình luật đã được đưa ra thi hành và các luật gia đã coi đó là một thứ luật man rợ, một vết dơ trong nền tư pháp Việt Nam Cộng Hoà. Ngay trong vụ án Saddam Hussein được Toà Án Đặc Biệt Iraq (Iraqi Special Tribunal) xét xử, trong bản án phúc thẩm ngày 26.12.2006, Toà Phúc Thẩm Iraq xác nhận nguyên tắc bất hồi tố của hình luật vẫn được tôn trọng. Nói cách khác, luật pháp của Iraq áp dụng cho tập đoàn Saddam Hussein còn văn minh và công bằng hơn luật pháp do Tướng Nguyễn Khánh đưa ra lúc đó.
Chúng tôi đã phỏng vấn nhiều thẩm phán và luật sư lão thành thời đó xem nhóm luật gia nào đã được giao cho soạn thảo Sắc Luật số 4/64 ngày 28.2.1964 và ai đã chỉ thị cho họ làm như vậy, nhưng không một tin tức nào được tiết lộ.
Tiếp theo, ngày 28.2.1964, Tướng Khánh ký Sắc Lệnh số 120-TP cử các tay chân bộ hạ của ông, sẵn sàng thi hành lệnh ông, vào thành phần xử án để thi hành quyết định của mình, đó là Đại Tá Trần Văn Chương, Đại Tá Nguyễn Văn Chuân, Đại Tá Đặng Văn Quang, Trung Tá Dương Hiếu Nghĩa (ghi lầm là Nguyễn Văn Nghĩa), v.v.
LỆNH GIẾT PHÁT XUẤT TỪ ĐÂU?
Trong cuốn “Việt Nam nhân chứng”, Tướng Trần Văn Đôn cho biết như sau:
“Hội Đồng Quân Đội Cách Mạng đã quyết định đưa ông Cẩn đi ra ngoại quốc rồi. Ông Cẩn lại không có tội gì rõ rệt đến nổi sinh mạng ông bị đe doạ. Hai anh của ông ta chết, máu đổ thêm nữa có ích lợi gì?...” (tr. 248).
Thế thì tại sao có lệnh phải làm một đạo luật man rợ để giết ông Cẩn?
Một số người cho rằng áp lực đòi nợ máu của nhóm Phật Giáo đấu tranh, nhất là hai Thượng Tọa Thiện Minh và Trí Quang, là động lực chính khiến Tướng Khánh phải ra tay, vì Tướng Khánh vốn bị nhóm này tố cáo là “Cần Lao tái xuất giang hồ”, nên phải có hành động như thế để chứng minh ông ta không phải là Cần Lao.
Tuy nhiên, nhiều người tin rằng sự thúc đẩy hay khuyến cáo của một số viên chức Hoa Kỳ, nhất là Đại Sứ Cabot Lodge, là lý do chính khiến Tướng Khánh phải ra tay: Nếu ông Cẩn còn sống, các nhóm ủng hộ chế độ Ngô Đình Diệm có thể làm đảo chánh và đưa ông Cẩn lên.
Trong công điện khẩn mang số 930 gởi cho Bộ Ngoại Giao ngày 5.11.1963 (sau khi ông Diệm vừa mới bị giết), ông Lodge nói ông Cẩn sẽ “được xét xử theo luật pháp” và “chính phủ Hoa Kỳ có thể trở thành người biện hộ cho tội ác, nếu toan tính làm việc xét xử ở đây bị trở ngại vì ông Cẩn là khuôn mặt đáng phải chịu sự oán ghét mà ông ta đang phải nhận”. Điều này cho thấy ông Lodge đã quyết định giết ông Cẩn. Nhiều người tin rằng ông Lodge đã mượn tay Tướng Khánh để thực hiện âm mưu của mình.
Thời đó, không có lệnh của Toà Đại Sứ Mỹ, Tướng Khánh không bao giờ dám đưa ra một quyết định quan trọng như vậy, dù bị áp lực của nhóm Phật Giáo đấu tranh đòi nợ máu. Trong công điện gởi về Washington ngày 30.4.1964, Đại Sứ Lodge kể lại rằng Tướng Khánh đã nói với ông:
“Chúng tôi người Việt Nam muốn người Mỹ chịu trách nhiệm với chúng tôi chứ không phải chỉ là những cố vấn”.
(We Vietnamese want the Americans to be responsible with us and not merely be advisers).
GIẤU ĐẦU LÒI ĐUÔI
Năm 2005, khi bị chất vấn về vụ giết ông Cẩn, Tướng Nguyễn Khánh nói rằng quyền tha hay giết ông Cẩn là quyền của Tướng Dương Văn Minh, vì lúc đó Tướng Minh là Quốc Trưởng. Riêng ông đã giúp ông Cẩn bằng cách đưa Đại Tá Đặng Văn Quang, con đỡ đầu của ông Cẩn, vào làm phụ thẩm Quân Nhân tại Tòa Án Cách Mạng xét xử ông Cẩn. Nhưng Tướng Khánh đã nói láo.
Đại Tá Đặng Văn Quang sinh tại Ba Xuyên là người công giáo đạo gốc, đi lính Pháp với cấp cập hạ sĩ từ 1947 – 1949, sau đó đi học khoá 1 sĩ quan Đập Đá ở Huế cùng với Nguyễn Văn Thiệu.
Trong thời gian ở Huế, Đặng Văn Quang còn là Trung Tá, có người tình là cô Đỗ Thị Năm, người Nam, không có đạo. Cô Năm đã xin theo đạo để hợp thức hoá tình trạng hôn nhân theo luật đạo Công Giáo. Trung Tá Quang đã nhờ bà Ngô Đình Thị Hiệp, em ông Diệm, vợ ông Tạ Văn Ấm và mẹ Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, đỡ đầu cho cô Năm khi chịu phép rửa tội và lấy tên thánh là Elisabeth, có lẽ để được ông Cẩn tin cậy và giúp đỡ! Như vậy không hề có chuyện ông Cẩn đỡ đầu cho Đại Tá Đặng Văn Quang như Đại Tướng Khánh đã nói. Ông Cẩn cũng không bao giờ đỡ đầu rửa tội cho bất cứ ai.
Về chuyện đổ tội cho Tướng Dương Văn Minh, chúng tôi đã nói với Tướng Khánh rằng lúc đó Tướng Minh chỉ là quốc trưởng bù nhìn, Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng do Tướng Khánh làm Chủ Tịch mới có quyền đưa ra quyết định tối hậu. Nhưng ông vẫn đổ tội cho Tướng Minh.
Đại Tướng Khánh có biết ông Cẩn đã nhìn các sĩ quan được Đại Tướng cử làm phụ thẩm quân nhân tại Toà Án Cách Mạnh như thế nào không? Luật Sư Võ Văn Quan người biện hộ cho ông Cẩn, cho biết, khi nhìn mấy tên phụ thẩm quân nhân ngồi xét xử, ông Cẩn đã nói với Luật sư Quan:
“Luật sư biết không, lúc mấy tên đó tới lui tại nhà tôi, khúm núm xưng “con”, xin xỏ, cầu cạnh. Bây giờ bọn nó tiếp tay để ngồi phiên xử này xử tôi, mặc dầu họ có thể từ chối. Đúng là một lũ phản phúc...”
Luật sư quan cho biết thêm, lúc ở phiên toà, ông Cẩn ngồi dựa vào ghế, nhìn thẳng vào các phụ thầm quân nhân. Một vài phụ thẩm quân nhân, khi nhìn xuống, chạm phải mắt ông Cẩn, liền quay về hướng khác.
Còn Tướng Nguyễn Khánh thì sao? Đại Úy Nguyễn Văn Minh, người phụ trách về an ninh của ông Cẩn lúc đó có kể lại năm 1956, sau khi nhận chức Tư Lệnh Sư Đoàn I Bộ Binh ở Huế, Tướng Khánh đến xin được vào chào ông Cẩn, nhưng không hiểu tại sao ông Cẩn không tiếp. Đại Tá Khánh liền áp dụng chiến thuật “lỳ”. Từ hôm sau, mỗi buổi sáng, đầu giờ làm việc, Tướng Khánh đều mặc quân phục chỉnh tề, tự mình lái xe đến đậu ngay trước nhà ông Cẩn. Sau khi yêu cầu nhân viên gác cổng vào trình xin cho ông được gặp, ông trở ra ngồi trên xe đợi hàng tiếng đồng hồ. Không được gặp, hôm sau Tướng Khánh lại lái xe đến và làm như thế, liên tiếp trong ba bốn sáng. Cuối cùng, ông đã được ông Cẩn tiếp.
Luật Sư Võ Văn Quan Luật sư Quan đã kết luận bài biện hộ cho ông Cẩn như sau:
“Trong cuộc cách mạng năm 1789 của Pháp, quốc hội gọi là Convention National, bầu trong thời kỳ La Terreur (Khủng Bố) gồm đa số là những người do tên độc tài khát máu Robespierre dùng áp lực để đưa vào. Trước khi đem vua Louis XVI ra xét xử tại Quốc Hội, Robespierre đã tuyên bố là phải cho án tử hình. Trong phiên tòa đặc biệt đó, nhiều người của Convention National đã cật vấn hằn học, mạt sát thậm tệ vua Louis XVI, cho biết trước rằng họ sẽ bỏ phiếu tuyên án tử hình. Khi đứng lên biện hộ cho vua Louis XVI, Luật sư Sège đã can trường nói thẳng với họ: “Je viens ici chercher des juges, mais je ne trouve que des bourreaux.” (Tôi đến đây tìm những vị thẩm phán quan, nhưng tôi chỉ gặp những tên đao phủ thủ).
Trong lịch sử tư pháp Việt Nam, chúng tôi chưa thấy có luật sư nào dám xúc phạm các quan tòa như vậy. Nhưng vì những điều Luật Sư Quan nói là sự thật nên các “phán quan” chỉ ngồi chịu trận chứ không có phản ứng nào.
Trong vụ án Đặng Sỹ, Đại Tướng Khánh cũng đã quyết định tuyên án tử hình. Nhưng khi bị áp lực của Khối Công Dân Công Giáo, Đại Tướng đã phải thay đổi quyết định của mình.
Sáng 7.6.1964 một cuộc biểu tình lớn với khoảng 100.000 người tham dự đã được tổ chức tại công trường Lam Sơn, trước trụ sở Quốc Hội ở Saigon. Đoàn biểu tình đứng kéo dài trên đường Lê Lợi đến chợ Bến Thành. Trong cuộc biểu tình này người ta thấy có các biểu ngữ : “Lột mặt nạ bọn lợi dụng Cách Mạng để đàn áp Công Giáo”, “Mỵ dân là phải bội Dân Chủ”, “Ủng hộ cuộc đấu tranh của Công Giáo miền Trung”,... Thỉnh thoảng có một vài biểu ngữ “Cabot Lodge cút đi” được đưa lên rồi hạ xuống.
Trước áp lực của khối Công Giáo, chiều 7.6.1964, Tướng Nguyễn Khánh đã cho Chuẩn Tướng Albert Nguyễn Cao, đại diện cho Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, đến thông báo cho Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình, Linh mục Trần Tử Nhãn ở Dòng Cứu Thế và gia đình Đặng Sĩ biết Đặng Sỹ sẽ không bị tuyên án tử hình và đừng quan tâm đến bản án tòa sẽ tuyên trong ngày mai. Tòa chỉ tuyên án để thỏa mãn những đòi hỏi của Phật Giáo mà thôi. Trong một thời gian ngắn, khi tình hình lắng dịu, Đặng Sỹ sẽ được trả tự do.
Điều này một lần nữa xác định Tướng Khánh là người nắm quyền quyết định về kết quả của các vụ án do Toà Án Cách Mạng xét xử.
Thiếu Tá Đặng Sỹ cho biết, sau khi tuyên án, ông Chánh Thẩm Lê Văn Thụ đã đi ngang qua chỗ ông đang đứng và nói: “Anh Sỹ, anh đừng buồn chúng tôi. Chắc anh đã hiểu!” Nói cách khác, ông Chánh Thẩm Lê Văn Thụ muốn nói với Thiếu Tá Đặng Sỹ rằng không phải ông muốn tuyên án như vậy, nhưng đó là lệnh. Một chánh thẩm của vụ án mà thanh minh như vậy, đâu còn là công lý nữa? XIN TRẢ LỜI DỨT KHOÁT
Bây giờ chúng tôi đã thu thập đầy đủ những văn kiện liên quan đến ba vụ án quan trọng của thời đó là vụ án Phan Quan Đông, vụ án Ngô Đình Cẩn và vụ án Đặng Sỹ, trong đó có bản cáo trạng, lời khai của các nhân chứng, các chứng tích được xuất trình, bài cãi của các luật sư và bản án. Chúng tôi cũng đã tìm được các báo cáo của Đại Sứ Cabot Lodge cho Washington trong thời gian vụ án Ngô Đình Cẩn xẩy ra. Chúng tôi mong rằng Đại Tướng sẽ làm sáng tỏ lịch sử.
Đại Tướng Dương Văn Minh đã không thể chối cãi việc ông đã ra lệnh giết Đại Tá Hồ Tấn Quyền, Đại Tá Lê Quang Tung, Thiếu Tá Lê Quang Triệu, Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu.
Các tài sử liệu chúng tôi đã đưa ra nói trên cũng cho thấy Đại Tướng Nguyễn Khánh là người đã quyết định số phận của Phan Quang Đông, Ngô Đình Cẩn và Thiếu Tá Đặng Sỹ. Tướng Khánh cũng không thể chối cãi được. Khi chúng tôi trình bày hồ sơ của từng vụ án, Tướng Khánh sẽ thấy rõ hơn.
Dư luận thắc mắc là trong các vụ án nói trên, Tướng Khánh đã tự ý hành động hay đã làm theo lệnh của Đại Sứ Cabot Lodge hoặc áp lực của nhóm Phật Giáo đòi nợ máu? Nếu Tướng Khánh tự ý làm, xin cho biết lý do.
Chúng tôi muốn tạo cơ hội cho Đại Tướng trả lời một cách thẳng thắn trước lịch sử thay vì chối quanh hay đánh bùn sang ao. Chúng tôi cũng xin nói rõ, với các tài liệu còn lưu lại, Đại Tướng không thể chối quanh hay đánh bùn sang ao được.
Nếu Đại Tướng không thể giải thích được, những sự kiện được chúng tôi dẫn chứng nói trên sẽ đi vào lịch sử và Đại Tướng sẽ phải lãnh nhận sự lên án của các thế hệ tiếp theo như Tướng Dương Văn Minh. Lữ Giang
(Cali ngày 12.4.2009)
Đánh giá lại Ngô Đình Diệm
Tiến sĩ Edward Miller
Viết cho BBCVietnamese.com từ Dartmouth College
Nhiều sử gia tiếp tục có đánh giá lại về nhân vật Ngô Đình Diệm
Mọi cố gắng tìm hiểu lịch sử Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) đều cần bắt đầu với Ngô Đình Diệm, nhà sáng lập và là tổng thống đầu tiên của VNCH.
Ông cũng phủ bóng lên những tranh luận về nguồn gốc cuộc chiến Việt Nam, bắt đầu từ cuộc nổi loạn chống lại chính thể Diệm. Đa số sử gia xem vụ lật đổ và ám sát Diệm tháng 11.1963 là sự kiện cột mốc giúp mở đường cho sự leo thang và "Mỹ hóa" cuộc xung đột giai đoạn 1964-65.
Dù quan trọng về lịch sử như thế, nhân vật này vẫn được ít người hiểu đúng. Cho tới gần đây, hầu hết sách học thuật về ông Diệm chủ yếu dựa vào nghiên cứu các văn bản chính phủ Mỹ và các nguồn khác của Mỹ. Vài năm qua, một số học giả bắt đầu dùng nguồn tư liệu Việt Nam (gồm cả hồ sơ VNCH được lưu ở Việt Nam). Chúng đã đem lại một số góc nhìn mới có giá trị về quyết định và chính sách của Diệm giai đoạn 1954-1963.
Nhưng cuộc đời và sự nghiệp trước 1954 của ông Diệm vẫn ít được khảo sát; các học giả vẫn còn tìm cách xác định những kinh nghiệm và tư tưởng đã định hình suy nghĩ của ông. Nói cách khác, chúng ta đã biết nhiều về những gì Diệm làm, nhưng vẫn vất vả để hiểu ông ta là ai.
Ba biếm họa
Do các học giả thiếu một cách hiểu đậm tính lịch sử về Diệm và động cơ của ông, nên diễn giải của họ về nhà lãnh đạo thường rất giản đơn, thậm chí trở thành châm biết. Ba bức biếm họa trở nên nổi trội trong giới nhà báo, sử gia và nhiều cây bút viết về Diệm từ thập niên 1960.
Một số tác giả mô tả Diệm như bù nhìn Mỹ, được giới chức Mỹ dựng lên để phục vụ mục tiêu địa chính trị của Washington. Những người khác lại nói Diệm không phải là sản phẩm của chính sách ngoại giao Mỹ, mà là của "truyền thống" Việt Nam. Theo quan điểm này, Diệm là kẻ phản động lạc hậu không hề quan tâm chuyện hiện đại hóa; những tư tưởng trị quốc của y bắt rễ từ những lề thói của thời kỳ trước thuộc địa.
Cách diễn giải thứ ba, tỏ lòng sùng kính hơn hai thái độ trên, mô tả Diệm như một anh hùng hiểu đúng nhu cầu và khao khát của người dân miền Nam. Cách nhìn này khẳng định sự sụp đổ của Diệm năm 1963 không phải vì khiếm khuyết của ông mà vì hành động ngu ngốc của các đồng minh Mỹ, những kẻ đã phản bội ngay khi nhà lãnh đạo sắp sửa chiến thắng kẻ thù.
Tổng thống Eisenhoweer và Ngoại trưởng John Foster Dulles đón tiếp ông Diệm tại phi trường Washington năm 1957
Thoạt nhìn qua, mỗi cách nhìn kể trên đều có vẻ khả tín. Nhưng khi xem xét kỹ, rõ là tất cả chúng chỉ bóp méo hơn là tiết lộ bản chất nhân vật.
Cụm từ "Mỹ-Diệm", được sử dụng bởi người cộng sản, diễn tả cô đọng nhất quan điểm rằng Diệm chỉ là con rối của Mỹ. Nhưng không chỉ người Cộng sản mới xem Diệm là sản phẩm của chính sách Mỹ. Khi Diệm còn sống, nhiều người Việt và Mỹ cho rằng ông này buộc phải đi theo chỉ thị của Washington để bảo đảm tiếp tục được hưởng viện trợ kinh tế và quân sự.
Dĩ nhiên, sau khi Diệm bị lật trong cuộc đảo chính có Mỹ bảo trợ, luận điệu Mỹ-Diệm bớt thuyết phục. Nếu Diệm chỉ là con rối của Mỹ, tại sao Washington khuyến khích nhóm tướng lĩnh hạ bệ ông ta? Dù vậy, một số tác giả vẫn khẳng định luận điệu này ít nhất cũng có một phần đúng. Những người viết này lập luận ngay cả nếu Diệm không phải là bù nhìn sau 1954, ông ta nhờ Washington nên mới nắm được chính quyền. Theo đó, Diệm giống như một quái vật Frankenstein của Mỹ - các lãnh đạo Mỹ bí mật sắp xếp để ông chiếm quyền ở Sài Gòn với hy vọng ông sẽ tuân lời, nhưng rồi nhận ra muộn màng rằng họ không thể kiểm soát ông ta.
Cho dù vẫn còn được một số giới ưa chuộng, lý thuyết bù nhìn này không đứng vững. Các tài liệu giải mật của Mỹ chứng tỏ Diệm rất chống đối lời khuyên của Mỹ, và ngay từ đầu đã thường bất tuân lời Washington. Ví dụ, trong cuộc "khủng hoảng giáo phái" 1954-55, sứ quán Mỹ ở Sài Gòn thúc giục Diệm thỏa hiệp với chỉ huy các lực lượng vũ trang đe dọa lật đổ ông. Không nghe lời Mỹ, Diệm buộc xảy ra nổ súng và rồi đánh bại các đối thủ - và như thế, ông càng tin là phải nghe chính mình. Sự miễn cưỡng làm theo chỉ thị của Mỹ càng thêm sâu sắc vì ông biết mình có được chức thủ tướng miền Nam là do nỗ lực riêng, chứ chẳng phải nhờ vào mưu toan của Mỹ. Chưa ai tìm được bằng chứng là giới chức Mỹ đã ép cựu hoàng Bảo Đại chọn Diệm làm thủ tướng mùa xuân 1954. Bằng chứng ta có được cho thấy quyết định của Bảo Đại chủ yếu là do sự vận động và quyền mưu của Diệm.
Vị quan cổ lỗ?
Tương tự, luận điệu nói Diệm là sản phẩm của "truyền thống", hay ông là người "phản hiện đại", cũng không thuyết phục hơn. Đúng là Diệm thường xuyên và thành kính nói về lịch sử và văn hóa truyền thống Việt Nam.
Chúng ta đã biết nhiều về những gì Diệm làm, nhưng vẫn vất vả để hiểu ông ta là ai.
Edward Miller
Tuy nhiên, Diệm nhấn mạnh ông không xem quá khứ Việt Nam là nền tảng cho tương lai đất nước. Ông tuyên bố: "Chúng ta sẽ không quay lại phiên bản vô ích của quá khứ quan lại, mà sẽ áp dụng những gì tốt nhất của di sản vào tình hình hiện đại."
Toàn bộ hoạt động xây dựng quốc gia của Diệm trong thời gian nắm quyền - bao gồm ban bố hiến pháp 1956, thành lập Quốc hội, các chương trình Khu trù mật và Ấp chiến lược - nhằm để cổ vũ sự hiện đại hóa đời sống chính trị, xã hội, kinh tế của miền Nam.
Chắc chắn Diệm rất nghi ngờ cả tư tưởng tự do lẫn Marxist về biến đổi xã hội, và đúng là ông là nhà bảo thủ. Nhưng lại không chính xác khi mô tả ông là kẻ phản động, với nghị trình duy nhất là phục hồi lề thói chính trị và xã hội của những thế kỷ trước.
Hiền nhân?
Trong ba diễn giải, có lẽ ít thuyết phục nhất là luận điệu mô tả Diệm như một hiền nhân được sự ủng hộ rộng rãi của người dân nông thôn miền Nam. Những người cổ vũ quan điểm này đã đúng khi nói Diệm rất quan tâm cuộc sống của người nông dân, và rằng ông thực lòng muốn cải thiện đời sống của họ. Nhưng chỉ việc Diệm quan tâm những vấn đề như thế không đủ giải thích vì sao ông theo đuổi những sách lược nhất định, và nó cũng không chứng tỏ được gì về thành công hay thất bại của những sách lược đó.
Bộ trưởng Quốc phòng McNamara và Tướng Maxwell Taylor gặp Tổng thống Kennedy ngày 24.9.1963 trước khi tới Sài Gòn
Trên thực tế, nỗ lực biến cải đời sống nông thôn của Diệm không thành công như ông và các ủng hộ viên đã nói. Điều này hiện rõ qua lịch sử của chương trình Dinh điền (tái định cư) giữa thập niên 1950. Theo chương trình này, dân cư nông thôn được đưa vào các khu định cư của chính phủ ở miền tây đồng bằng Sông Cửu Long và vùng Cao Nguyên.
Khi cho nông dân nghèo có đất ở những khu vực thưa dân này, Diệm tin rằng ông đang cải thiện đời sống, và cũng dạy cho dân giá trị của sự tự lập và chăm chỉ. Nhưng đời sống ở các khu định cư lại chật vật, nhiều khu đặt ở các vùng hẻo lánh, đất cằn cỗi, không đủ nước. Chương trình cũng chịu họa vì các viên chức địa phương tham ô và tàn nhẫn. Kết quả, nó thất bại trong cố gắng thu phục niềm tin vào chính phủ và giảm bớt hỗ trợ cho đối phương Cộng sản. Những khiếm khuyết của chương trình Dinh điền (và sau này là Khu Trù mật và Ấp chiến lược) đã bị lợi dụng không chỉ bởi phe cộng sản mà cả bởi nhóm Phật giáo những người tổ chức biểu tình lan rộng chống chính phủ năm 1963.
Kết luận
Các học giả cần phân tích Ngô Đình Diệm trong bối cảnh lịch sử mà ông sống. Nguồn gốc tư tưởng và chính sách của Diệm không thể tìm thấy ở Washington, trong quá khứ Việt Nam hay thậm chí trong sự thông cảm với nông dân.
Niềm tin và tham vọng của Diệm được gọt dũa trong thời gian và hoàn cảnh khi ông trưởng thành - những thập niên cuối cùng của chế độ thực dân Pháp ở Đông Dương. Giai đoạn giữa hai cuộc Thế chiến là thời gian khơi men chính trị và tri thức ở Việt Nam. Những chủ đề như giải phóng dân tộc, cải cách văn hóa, hiện đại được tranh luận sôi nổi chưa từng thấy, và nhiều người Việt bắt đầu tìm kiếm những hình thức hoạt động chính trị mới. Diệm chịu ảnh hưởng sâu sắc từ những đổi thay đó, nhưng các học giả chưa hiểu rõ sự biến đổi trong tư tưởng của ông giai đoạn này.
Ít nhất có ba luồng tư tưởng dường như đã ảnh hưởng Diệm về xã hội và chính trị giai đoạn 1920 và 1930.
Khi đã bỏ qua những mô tả biến dạng xưa cũ, chúng ta mới có thể hiểu được nhân vật phức tạp này, một người đóng vai trò trung tâm trong lịch sử hiện đại Việt Nam.
Edward Miller
Đầu tiên là sự trỗi dậy của một hình thức chủ nghĩa dân tộc mới của Thiên Chúa giáo ở Việt Nam. Chủ nghĩa dân tộc Công giáo được gắn với gia đình Diệm và đặc biệt với anh trai, Hồng y Ngô Đình Thục. Diệm cũng gần gũi với Nguyễn Hữu Bài, một nhân vật Công giáo mà nổi tiếng đã khuyên Diệm treo ấn từ quan năm 1933 để phản đối chính sách của Pháp.
Luồng tư tưởng thứ hai ảnh hưởng Diệm thời gian này là Khổng giáo. Hiểu biết của Diệm về Khổng giáo được định hình nhờ tình bạn với Phan Bội Châu, người trải qua những năm cuối đời ở Huế. Thời gian này, cụ Phan viết nhiều tác phẩm, cho rằng giáo huấn của Khổng giáo có thể áp dụng cho xã hội Việt Nam hiện đại - cũng là quan điểm mà sau nay Ngô Tổng thống cổ vũ.
Cuối cùng và quan trọng nhất, trong những năm này Diệm lần đầu tiên tiếp xúc khái niệm "chủ nghĩa Nhân vị", một học thuyết mượn từ triết lý Thiên Chúa giáo Pháp. Ngô Đình Nhu hướng dẫn ông đến với lý thuyết ấy, và đây cũng là người sau này thuyết phục anh trai đưa học thuyết thành hệ tư tưởng chính thức của chính phủ Diệm.
Giới học giả vẫn còn phải khám phá nhiều điều về Diệm, và những năm tới chắc chắn sẽ đem lại những tiết lộ mới. Tuy nhiên, các sử gia cần làm nhiều hơn, không chỉ là tìm kiếm các nguồn tài liệu mới về Diệm. Họ cũng phải cân nhắc những cách diễn giải mới về cuộc đời, chính sách và tư tưởng của ông. Chỉ như thế chúng ta mới có thể có những giải thích thuyết phục hơn về những thành công và thất bại của Diệm.
Khi đã bỏ qua những mô tả biến dạng xưa cũ, chúng ta mới có thể hiểu được nhân vật phức tạp này, một người đóng vai trò trung tâm trong lịch sử hiện đại Việt Nam và trong cuộc chiến Việt Nam.
Về tác giả:Ông Edward Miller lấy bằng tiến sĩ ở Đại học Harvard năm 2004 với nghiên cứu về nhân vật Ngô Đình Diệm. Ông đã sống, làm việc ở Đài Loan, Singapore và Việt Nam.
Đi sai một nước cờ chiến lược?
Thanh Trúc, phóng viên RFA
2009-04-15
Chuyện chính phủ Việt Nam nhất quyết cho khai thác quặng bauxite ở Tây Nguyên mà nhiều khả năng do các công ty Trung Quốc đảm trách, vẫn là đề tài tranh cãi trong dư luận.
Photo courtesy Báo SaigonTiếpThị
Nhà hàng Trung Quốc ở khu mỏ Tân Rai
< meta name=ProgId content=Word.Document>< meta name=Generator content="Microsoft Word 12">< meta name=Originator content="Microsoft Word 12">Mới nhất là lời kêu gọi “bất tuân dân sự, biểu tình tại gia của đại lão hoà thượng Thích Quảng Độ, tiếp đến là ý kiến phản đối của hai nhà dân chủ Đỗ Nam Hải và Ngưyễn Khắc Toàn ở trong nước..
Ngoài vấn đề huỷ hoại môi trường và lợi bất cập hại về kinh tế, dư luận chừng như càng không đồng ý với việc để cho Trung Quốc vào Tây Nguyên.
Tây Nguyên là xương sống của Đông Dương
Ngoài vấn đề huỷ hoại môi trường và lợi bất cập hại về kinh tế, dư luận chừng như càng không đồng ý với việc để cho Trung Quốc vào Tây Nguyên.
Một chuyên gia ở Pháp, Tiến sĩ Nguyễn Văn Huy, với luận đề chuyên môn Người Thượng Tây Nguyên , cũng là người thường viết những bài tham luận trên báo về an ninh và quốc phòng Việt Nam, đóng góp ý kiến trong bài phỏng vấn do Thanh Trúc thực hiện. Trước hết ông nhận định:
TS Nguyễn Văn Huy : Khi mà nghe một công ty nước ngoài đến Việt Nam khai thác thì đó là điều đáng mừng tại vì họ đem kiến thức về kỹ thuật cũng như kỹ nghệ cho người Việt Nam mình.
Nhưng mà khai thác cái gì? Mình thấy hiện nay chính phủ nhượng cho một số công ty nước ngoài khai thác quặng bauxite, là một quặng kim loại căn bản để sản xuất xe hơi và một số dụng cụ kim khí khác, tại vì Việt Nam mình hiện nay không có kỹ thuật để khai thác những thứ này.
Thành ra ai nắm được Tây Nguyên thì người đó nắm được tình hình an ninh của vùng đồng bằng Miền Trung và miền Nam, kể cả Kampuchea và Lào nữa.
Công ty nước ngoài đến thì mình cũng rất là mừng tại vì họ sẽ đầu tư, họ phải xây dựng nhà cửa, hệ thống đường sá và hạ tầng cơ sở, đồng thời tuyển dụng nhân công người Việt Nam mình trong nhiệm vụ khai thác đó. Nhưng hiện nay cái mà mình lo âu nhứt là vấn đề môi trường.
Vớí tư cách là một chuyên viên về người Thượng tại Cao Nguyên Trung Phần (Tây
Số lao động trong khu mỏ đa phần là người Trung Quốc và một số ít công nhân Việt Nam quê ở Nghệ An và Thanh Hóa. Photo courtesy Báo SaigonTiếpThị
Nguyên) tôi thấy vùng này đáng lẽ là một vùng dự trữ của mình tại vì nó có hai tính cách, thứ nhứt là tính cách về dân tộc học, xã hội học, thì đây là vùng dân cư người thiểu số gốc Tây Nguyên, tức người Thượng, tức là người dân tộc hiện nay.
Thứ hai là vấn đề vị tí chiến lược. Tây Nguyên là vùng trọng điểm của Việt Nam, có thể nói đó là xương sống của Đông Dương và đồng thời là xương sống của Việt Nam, thành ra bằng mọi giá mình phải giữ vững vùng này để thuộc về chủ quyền Việt Nam mình, tại vì nếu bất cứ một thế lực nào nắm được vùng chiến lược Tây Nguyên thì họ nắm được cả Đông Dương, cả nước Lào, Việt Nam và Kampuchea.
Mình phải thấy rằng đây là cả một quá trình mà người Trung Quốc đã chuẩn bị trước chứ không phải tình cờ họ thấy Việt Nam có quặng bauxite mà họ đến khai thác đâu.
Thành ra ai nắm được Tây Nguyên thì người đó nắm được tình hình an ninh của vùng đồng bằng Miền Trung và miền Nam, kể cả Kampuchea và Lào nữa.
Trờ lại vấn đề người Trung Quốc khai thác quặng bauxite ở Việt Nam, mình phải thấy rằng đây là cả một quá trình mà người Trung Quốc đã chuẩn bị trước chứ không phải tình cờ họ thấy Việt Nam có quặng bauxite mà họ đến khai thác đâu.
Thật ra quặng bauxite của Việt Nam mình không có lớn và dự trữ của nó cũng không có cao, nhưng người Trung Quốc quan tâm tới.
Họ sẵn sàng bằng mọi giá để mà loại tất cả các đốí thủ khác về kinh tế, chẳng hạn như Úc ngày nay họ cũng có khả năng đó, hoặc là các quốc gia trong vùng như là Ấn Độ cũng có khả năng đó.
Nhưng mà Trung Quốc bằng mọi giá đã tranh thủ được thị trường khai thác quặng này.
Tây Nguyên nằm trong chiến lược của TQ
Thanh Trúc :Thưa, ông dựa vào những lý cớ nào để có thể đoán chắc như vậy?
Trung Quốc thiếu nguyên liệu, tức là kỹ nghệ của họ đang rất cần kim khí mà quặng bauxite là một trong những quặng kim loại căn bản. Nhưng vấn đề của Trung Quốc hiện nay thì mình phải nhìn vấn đề một cách khác hơn.
TS Nguyễn Văn Huy : Thứ nhứt là Trung Quốc thiếu nguyên liệu, tức là kỹ nghệ của họ đang rất cần kim khí mà quặng bauxite là một trong những quặng kim loại căn bản. Nhưng vấn đề của Trung Quốc hiện nay thì mình phải nhìn vấn đề một cách khác hơn.
Mình phải trở lại vấn đề Lào và Kampuchea. Con đường từ Bắc Lào đến Nam Lào, tức là quốc lộ 13 của Lào thì Trung Quốc đã xây dựng xong.
Mục đích của việc xây dựng con đường này là để vận chuyển tài nguyên hoặc là nguyên liệu từ miền Nam lên miền Bắc, hoặc từ miền Bắc xuống miền Nam, tức là xuống vùng bờ biển Vịnh Thái Lan.
Gần đây chính phủ Trung Quốc đã bắt tay với chính phủ Hun Sen của Kampuchea để xây dựng quốc lộ 4, tức là từ Nam Lào đến hải cảng Komponsom, tức hải cảng Sihanoukville hiện nay.
Điều này nằm trong chiến lược của Trung Quốc, tức là trong tương lai Trung Quốc sẽ đem lực lượng khai thác dầu hoả đến vùng Biển Đông của mình.
Nếu dùng hệ thống tàu bè trên biển chuyển về Trung Quốc (vùng Quảng Đông) rồi chuyền vào nội địa ở Hoa Nam thì rất là tốn kém.
Chính vì vậy mà bằng mọi gia Trung Quốc phải nắm bằng được vùng an ninh dọc Tây Nguyên Việt Nam, từ Thanh Hoá đến Đồng Nai, tại vì nếu Việt Nam gây khó dễ cho Trung Quốc thì con đường vận chuyển sẽ rất khó khăn và sẽ rất tốn kém
Họ sẽ dùng Vịnh Thái Lan, thiết lập những ống dẫn từ biển cả đi qua ngã Komponsom, sau đó chuyển vận đến các kho dự trữ để chuyển dầu lửa đó về Trung Quốc bằng đường bộ từ Komponsom lên Lào rồi qua Vân Nam.
Vấn đề của Trung Quốc hiện nay là vấn đề Việt Nam. Nếu Việt Nam cản trở con đường này thì chắc chắn là Trung Quốc sẽ rất khó khăn trong vấn đề vận chuyển hàng hoá.
Chính vì vậy mà bằng mọi gia Trung Quốc phải nắm bằng được vùng an ninh dọc Tây Nguyên Việt Nam, từ Thanh Hoá đến Đồng Nai, tại vì nếu Việt Nam gây khó dễ cho Trung Quốc thì con đường vận chuyển sẽ rất khó khăn và sẽ rất tốn kém, sẽ gây thiệt hại cho Trung Quốc rất nhiều trong vấn đề kỹ thuật lẫn vấn đề kinh tế.
Sai lầm lớn về an ninh quốc phòng
Thanh Trúc :Thưa TS Nguyễn Văn Huy, trong dự án cho khai thác quặng bauxite ở Tây Nguyên thì có tĩnh Đắc Nông mà hết hai phần ba diện tích của tỉnh này là được dành cho vấn đề khai thác quặng Bauxite. Như vậy nếu những lô khai thác ở đó lọt vào tay Trung Quốc thì phải chăng đó là lợi điểm rất lớn cho Trung Quốc?
TS Nguyễn Văn Huy : Đúng vậy. Đắc Nông hiện nay nằm ở vùng ngã ba biên giới là Tây Nguyên, Nam Lào và Kampuchea, thành ra Đắc Nông là địa điểm rất lý tưởng để khai thác quặng bauxite vì quặng này chiếm 2/3 đến 3/4 diện tích lãnh thổ của tỉnh Đắc Nông.
Đắc Nông hiện nay nằm ở vùng ngã ba biên giới là Tây Nguyên, Nam Lào và Kampuchea, thành ra Đắc Nông là địa điểm rất lý tưởng để khai thác quặng bauxite vì quặng này chiếm 2/3 đến 3/4 diện tích lãnh thổ của tỉnh Đắc Nông
Nếu Trung Quốc được quyền khai thác thì họ sẽ đem máy móc của họ và người của họ đến. Chắc chắn là chúng ta đừng hy vọng người Trung Quốc sẽ tuyển dụng nhân công Việt Nam để khai thác. Họ sẽ đem chuyên viên của họ đến. Họ xây dựng cơ sở ở đó.
Họ thiêt lập những hạ tầng như nhà cửa, địa ốc của họ để họ quản lý vùng đó.
Tôi nghĩ rằng Việt Nam mình không có quyền kiểm soát trong khu vực họ làm việc. Đây là một sự thiếu suy nghĩ của chính quyền Việt Nam về vấn đề chiến lược lâu dài.
Nếu thật sự để cho Trung Quốc khai thác, họ trả tiền, thì rất là tốt, nhưng mà tôi nghĩ đây là một trong những chính sách của họ để nắm vững quốc lộ từ Komponsom đến Vân Nam mà Việt Nam là chặn đường mà họ phải tranh thủ cho bằng được, và Đắc Nông là địa điểm họ bắt buộc phải có mặt để giữ vững an ninh con đường đó.
Chúng ta phải biết rằng khi mà Trung Quốc có mặt ở đó thì sẽ rất khó đẩy họ đi, mà điều này thì các chiến lược tương lai của Việt Nam sẽ rất là khó xử.
Thanh Trúc :Nhưng mà xin Tiến Sĩ đừng quên rằng trong những bài tham luận của ông về quốc phòng và quân đội của Việt Nam thì ông nói Việt Nam không ngừng cải tiến cũng như không ngừng trang bị, như thế khi Trung Quốc đến Tây Nguyên thì Việt Nam không phải là không biết ý đồ hay tham vọng của Trung Quốc ?
Tôi nghĩ đây là một trong những chính sách của họ để nắm vững quốc lộ từ Komponsom đến Vân Nam mà Việt Nam là chặn đường mà họ phải tranh thủ cho bằng được, và Đắc Nông là địa điểm họ bắt buộc phải có mặt để giữ vững an ninh con đường đó.
TS Nguyễn Văn Huy : Phải nói thẳng ra hiện nay trong nội bộ đảng cộng sản mình không biết kẻ nào nắm quyền quyết định, nhưng mà tôi thấy rằng nhượng cho Trung Quốc khai thác vùng bauxite ở huyện Đắc Nông cũng như trên Tây Nguyên thì đó là một điều rất là nguy hiểm cho Việt Nam.
Tôi nghĩ rằng trong quân đội Việt Nam hiện nay cũng có rất nhiều người sáng suốt nhưng vì tiếng nói của họ không đủ mạnh để mà gây áp lực trên chính quyền hầu ngăn chận Trung Quốc khai thác vùng bauxite Tây Nguyên.
Việt Nam có hai khu chiến lược là vùng phía Thanh Hoá sát biên giới Lào và vùng Tây Nguyên tức vùng Buôn Ma Thuột và Plưiku.
Đó là hai vùng khi mà bị tấn công hay cái gì đó thì ta có thể ở đó mà tổ chức cuộc phản công. Nhưng hiện nay nếu Trung Quốc có mặt ở vùng Đắc Nông thì coi như là chúng ta không còn làm chủ được vùng Tây Nguyên nữa.
Nếu xảy ra một vụ xung đột ở ngoài khơi chẳng hạn, thí dụ như hải quân Việt Nam đòi chủ quyền trên Hoàng Sa-Trường Sa đối với Trung Quốc mà xảy tấn công thì chúng ta cũng không có một căn cứ nào bảo đảm để một khi rút quân vào đất liền thì chúng ta có một địa bàn phản công.
Thành ra tôi nghĩ rằng chúng ta gần như là bị trong cái thế bị bóp nghẹt, bị cắt làm hai. Điều này tôi không hiểu chính quyền cộng sản tại sao lại có quyết định mhư vậy.
Có thể họ có những cái gì khác. Nhưng mà về chiến lược lâu dài của Việt Nam, để cho Trung Quốc khai thác Tây Nguyên, có mặt tại Tây Nguyên, đó là một điều rất sai lầm mà có thể nhiều thế hệ sau này sẽ khó mà gỡ lại được.
BBC Cập nhật: 08:53 GMT - thứ tư, 15 tháng 4, 2009 Báo Du lịch bị đình bản
Bộ Thông tin và Truyền thông vừa quyết định đình bản báo Du lịch trong ba tháng vì 'sai phạm nghiêm trọng' trong số Tết Kỷ Sửu 2009.
Quyết định do Bộ trưởng Lê Doãn Hợp ký hôm thứ Ba 14/04 viết "lãnh đạo báo Du lịch đã không chấp hành sự chỉ đạo đối với các thông tin quan trọng, phức tạp và nhạy cảm".
Số Du lịch Xuân Kỷ Sửu có một số bài đề cập tới chủ đề biên giới lãnh thổ cũng như chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Phó tổng biên tập phụ trách báo Du lịch Nguyễn Trung Dân cho hay sau bốn tháng từ khi số báo Xuân được xuất bản, quyết định được ký, chuyển một cách vội vã và có hiệu lực ngay trong ngày.
Ông Dân nói "sẽ chấp hành quyết định" của Bộ nhưng khẳng định tờ báo không có sai phạm như nêu trong quy định.
Ban biên tập tờ báo bị buộc là đã "vi phạm nghiêm trọng các quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 6 và khoản 2 Điều 10 Luật Báo chí, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí".
Theo đó, tờ báo bị cáo buộc không 'thông tin trung thực', không tuân thủ 'tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước' và đã 'kích động bạo lực, tuyên truyền chiến tranh xâm lược, gây hận thù giữa các dân tộc và nhân dân các nước'.
Quyết định của bộ trưởng Thông tin và Truyền thông cũng viết rằng "Lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên [báo Du lịch] đã kiểm điểm nhưng thiếu nghiêm túc, chưa nhận thức đầy đủ tính chất, mức độ nghiêm trọng của khuyết điểm".
Trong thời gian đình bản ba tháng, bộ này cho hay sẽ có biện pháp củng cố, kiện toàn tổ chức tờ báo và nhân sự lãnh đạo. Ông Nguyễn Trung Dân cho hay ông sẵn sàng chuẩn bị tinh thần ra đi, "chỉ mong tờ báo được tiếp tục hoạt động".
Báo Du lịch là cơ quan của Tổng cục Du lịch Việt Nam. Báo có phiên bản online, phiên bản in ra một tuần hai số.
Thông tin phức tạp, nhạy cảm
Ấn bản Xuân của báo Du lịch đăng bài viết của một số tác giả được tiếng là 'nói thẳng' như nhà văn Nguyên Ngọc và tiến sỹ Nguyễn Quang A.
Trong số này cũng có cả bài của nhà bất đồng chính kiến Bùi Minh Quốc.
Báo Du lịch Xuân dành nhiều diện tích để đề cập tới chủ đề chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Trong bài viết tựa đề 'Ải Nam Quan', báo này cũng trích đăng lại bài thơ Hận Nam Quan trong vở kịch thơ của Hoàng Cầm.
Đặc biệt, số này còn có bài 'Tản mạn cho đảo xa' của tác giả Trung Bảo, ca ngợi tinh thần của những người tham gia biểu tình phản đối chính sách của Trung Quốc đối với các quần đảo của Việt Nam cuối 2007 - đầu 2008.
Tác giả này viết: "Nếu có 'kẻ xấu' nào đó 'kích động' người ta đi biểu tình vì yêu nước, ta nên tôn trọng những 'kẻ xấu' này".
"Ngược lại, khi 'người tốt' tìm cách ngăn cản sự biểu lộ đầy phẫn uất một cách chính đáng của người dân vì chứng kiến đất mẹ bị xâm phạm, thì hẳn những kẻ vẫn mạo xưng 'người tốt' này cần phải được xem lại."
Ông cũng cảnh báo: "Lịch sử cũng sẽ không bỏ qua cho chúng ta khi cứ giả như không có, không biết một phần đất nước vẫn đang còn bị xâm lấn."
Trong một phỏng vấn với BBC, Phó tổng biên tập Nguyễn Trung Dân nói ông không cho rằng báo Du lịch đã 'xé rào'.
"Người Việt Nam nào cũng làm như tôi (khi quyết định cho đăng các bài trên). Động viên lòng yêu nước của người dân thì có gì mà không làm ?"
Lại căng thẳng vùng biển
BBC Cập nhật: 14:16 GMT - thứ tư, 15 tháng 4, 2009 Lại căng thẳng vùng biển
Trên vùng biển Nam Trung Hoa có vẻ lại có những diễn biến mới, với sự liên quan của cả Mỹ, Đài Loan và Trung Quốc, trong lúc bản thân Trung Quốc tăng cường các chuyến tuần tra trên biển.
Tờ China Times của Đài Loan cho hay Trung Quốc đã cấm Hoa Kỳ và Đài Loan được vào khu vực thềm lục địa của Đông Sa, cách Hong Kong trên 300 km về phía Nam, nơi họ đang thực hiện việc khảo sát và lập bản đồ.
Nhằm hoàn tất việc khảo sát và lập bản đồ thềm lục địa quanh Đài Loan vào ngày 12/5/2009 để cho phép hòn đảo này tuyên bố quyền về đặc khu kinh tế, Hoa Kỳ đã phái một tàu nghiên cứu để giúp thực hiện công việc.
Tuy nhiên, căng thẳng giữa Trung Quốc và Đài Loan về vụ việc đã nổ ra. Tờ China Times trích dẫn các nguồn tin mà họ nói là tin cậy cho biết hải quân Trung Quốc đã cấm các khoa học gia của Mỹ và Đài Loan tới gần Đông Sa để thực hiện nhiệm vụ, nói rằng họ đã vi phạm bất hợp pháp.
Đây là xung đột thứ hai kể từ sau khi tàu Impeccable của Mỹ bị các tàu Trung Quốc ‘gây hấn' trên biển Đông hồi đầu tháng Ba.
Lần này, vụ việc đã được thông báo lên Bộ An ninh Đài Loan và bộ Ngoại giao Hoa Kỳ.
Được biết tàu của Trung Quốc đột nhiên tới gần tàu nghiên cứu của Đài Loan và Mỹ, và cảnh báo Hoa Kỳ rằng chiếc tàu này đang xâm phạm vào đặc khu kinh tế Trung Quốc. Họ nói chiếc tàu này không được phép thực hiện nghiên cứu quanh khu vực quần đảo Đông Sa mà không có sự cho phép của Trung Quốc.
Phản bác
Các khoa học gia Đài Loan đã phản bác rằng Đông Sa (Pratas Islands) là đặc khu kinh tế thuộc chủ quyền của Đài Loan, và tàu nghiên cứu của Mỹ được phép thực hiện các nghiên cứu hợp pháp trong vùng lãnh hải này.
Do các khoa học gia Đài Loan khẳng định họ được quyền khảo sát, chiếc tàu theo dõi mang số hiệu 81 của Trung Quốc đã không có hành động gì tiếp theo, nhưng nó tiếp tục đi theo để theo dõi.
Giới phân tích cho rằng hành động của hải quân Trung Quốc là nhắm tới tàu nghiên cứu của Mỹ. Được biết các khoa học gia Đài Loan đã liên lạc với bộ chỉ huy đề nghị trợ giúp, và chiếc tàu nghiên cứu của Mỹ cũng ngay lập tức thông báo vụ việc với Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ.
Tuy nhiên, nhờ kiềm chế, cả ba bên đã không có hành động gì. Tin cho hay các khoa học gia Đài Loan và Mỹ đã hoàn tất việc khảo sát và vẽ bản đồ vùng biển Philippines và đã sẵn sàng quay trở về. Thế nhưng Bộ Ngoại giao Mỹ phàn nàn về thái độ thách thức của Trung Quốc.
Tuần tra chung
Trong một diễn biến khác, tin tức Trung Quốc cho hay một tàu tuần dương từ tỉnh Quảng Đông đã bắt đầu tham gia vào chiến dịch tuần tiễu chung trên Biển Đông hôm thứ Ba.
Các quan chức địa phương cho hay tàu Hải Tuần-31 rời cảng Chu Hải để tới Tam Á, là cảng thuộc tỉnh Hải Nam.
Tàu này sẽ tham gia vào chiến dịch tuần tra đại dương chung, do giới chức hàng hải thuộc ba tỉnh Quảng Đông, Hải Nam và Thượng Hải đứng ra tổ chức.
Tàu Hải Tuần-31 sẽ tham gia cùng tàu Hải Tiêu-32 của Quảng Đông và Hải Tuần-21 của Thượng Hải thực hiện chiến dịch tuần tra chung này.
Các quan chức Trung Quốc nói cuộc tuần tra là để giám sát môi trường biển, kiểm tra các tuyến hàng hải chính, đánh dấu các tuyến đường biển và các cơ sở trên biển cũng như đảm bảo an toàn và trật tự cho tàu bè.
Căng thẳng trên Biển Đông đã gia tăng trong thời gian qua, sau vụ đụng độ giữa tàu Mỹ với tàu Trung Quốc, và sau khi Trung Quốc gia tăng sự hiện diện của họ tại đây.
Đường đỏ là vùng TQ tuyên bố chủ quyền; Đường xanh là các đặc khu kinh tế EEZ theo Công ước LHQ về luật biển; Các đảo xám là nơi có tranh chấp.
Văn bút Quốc tế đánh động dư luận về trường hợp các ngòi bút bị cầm tù ở VN
Trà Mi, phóng viên RFA 2009-04-15
Ủy ban bảo vệ các ngòi bút bị cầm tù thuộc Tổ chức Văn bút Quốc tế vừa lên tiếng đánh động dư luận khắp nơi về tình trạng tù tội bất công của các ngòi bút đòi hỏi nhân quyền tại Việt Nam.
Tổ chức quốc tế này cũng đồng thời kêu gọi mọi người có hành động cụ thể kêu gọi Hà Nội tuân thủ những điều cam kết với thế giới về tôn trọng quyền tự do bày tỏ quan điểm của công dân.
Bị giam cầm chỉ vì bày tỏ quan điểm
Trong cuộc trao đổi với Trà Mi, bà Sara Whyatt, Giám đốc chương trình của Ủy ban bảo vệ các ngòi bút bị cầm tù thuộc Tổ chức Văn bút Quốc tế, nhấn mạnh quan điểm của tổ chức này:
Bà Sara Whyatt: Tổ chức Văn bút Quốc tế chúng tôi đã và đang kêu gọi chính phủ Việt Nam phóng thích khoảng 7 ngòi bút và nhà báo bị bắt bớ cuối năm ngoái trong một chiến dịch đàn áp quy mô trấn áp những tiếng nói đối lập, những người kêu gọi nhân quyền.
Chúng tôi hết sức quan tâm vì tất cả 7 người này đều vẫn đang bị giam giữ, một hành động vi phạm quyền công dân tự do bày tỏ quan điểm. Chúng tôi vừa nhận được báo cáo rằng vài ngừơi trong số này đang trong tình trạng sức khoẻ suy kém và người thân của họ không được phép tiếp xúc, thăm nuôi.
Chúng tôi thật sự rất quan ngại trứơc tình trạng này nên đã công bố văn bản đánh động sự quan tâm của công luận khắp nơi lần đầu tiên vào tháng 9 năm ngoái và tái cập nhật thêm tuần trứơc khi nghe tin các thông tin về tình trạng của họ hiện giờ.
Chúng tôi kêu gọi các thành viên của tổ chức hiện đang hiện diện tại hơn 100 quốc gia trên thế giới bày tỏ sự phản đối với chính phủ Việt Nam, yêu cầu phóng thích các ngòi bút đang bị giam cầm, cho phép họ được tiếp cận các điều kiện chăm sóc sức khoẻ cần thiết, được tiếp xúc với người thân và luật sư trong thời gian bị giam giữ.
Chúng tôi cũng kêu gọi nhà cầm quyền Việt Nam xem lại các quy định về bắt giam những người bất đồng chính kiến, những nạn nhân bị đẩy vào vòng lao lý chỉ vì bày tỏ quan điểm của họ.
Như cô biết đấy, Hà Nội từ lâu đã tham gia ký kết vào Công ứơc quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, trong đó có điều 19 bảo đảm và bảo vệ quyền tự do bày tỏ quan điểm của công dân. Vì vậy, những sự bắt bớ này hoàn toàn vi phạm và đi ngược lại những gì mà chính nhà nước Việt Nam đã lên tiếng cam kết với cộng đồng quốc tế.
Trà Mi: Những lời kêu gọi Việt Nam tôn trọng nhân quyền nên được gửi đến đâu, thưa bà?
Bà Sara Whyatt: Các lời kêu gọi và phản kháng đang được gửi đến Bộ Ngoại Giao Việt Nam ở Hà Nội, Thủ tướng Việt Nam, và quan trọng là các sứ quán Việt Nam ở các nứơc. Chúng tôi cũng đang viết thư gửi đến một số các cơ sở ngoại giao.
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng nêu vấn đề trên các phương tiện truyền thông đại chúng để nhắc nhở mọi ngừơi rằng tình trạng vi phạm nhân quyền tại Việt Nam đáng quan ngại, để mọi ngừơi nhớ rằng những ngừơi cầm bút đựơc quyền phản ánh hiện thực và bày tỏ quan điểm ôn hoà mà không cần phải sợ bị tấn công hay đàn áp.
Vai trò của những ngừơi cầm bút chúng tôi là phải lên tiếng và bày tỏ sự quan tâm bằng tất cả những phương thức có thể.
Trà Mi: Những thông tin mà Tổ chức Văn bút có được và cáo buộc Hà Nội dựa trên những cơ sở nào thưa bà ?
Bà Sara Whyatt: Chúng tôi nhận đựơc báo cáo từ nhiều nguồn khác nhau, từ các tổ chức NGO chuyên bảo vệ nhân quyền trên thế giới, trực tiếp từ các cá nhân, đoàn thể trong và ngoài Việt Nam. Tổ chức Văn bút chúng tôi luôn dựa vào nhiều nguồn thông tin và báo cáo khác nhau trứơc khi công bố văn bản đánh động dư luận.
Chúng tôi rất thất vọng khi thấy rằng tại thời điểm 2009 này đây vẫn còn cái kiểu bắt bớ, tù đày những tiếng nói bất đồng chỉ vì họ bày tỏ thái độ phản đối một cách ôn hoà để kêu gọi thay đổi, cải thiện, điều này hoàn toàn vi phạm những tiêu chuẩn nhân quyền căn bản được cả thế giới công nhận mà Việt Nam cũng đã ký tên đồng ý.
Hành động vì nạn nhân của độc tài
Trà Mi: Nhiều người nhận xét rằng chính phủ Việt Nam chưa bao giờ có phản hồi thích ứng trước những lời kêu gọi và những sự quan tâm về nhân quyền. Vậy theo bà, cộng đồng quốc tế cần phải làm gì hơn nữa để phát huy tác dụng của những lời kêu gọi này?
Bà Sara Whyatt: Tôi nghĩ chúng ta chỉ cần tiếp tục gióng tiếng nói mạnh mẽ và liên tục. Theo tôi, nhà cầm quyền Việt Nam không có hồi đáp trực tiếp không phải là chỉ dấu rằng họ không phản hồi. Tôi nghĩ chúng ta nên liên tục nhắc nhở Hà Nội về nghĩa vụ và trách nhiệm của họ đối với những gì cam kết trong bản Công ước quốc tế.
Hơn nữa, chúng ta còn phải có trách nhiệm bảo vệ những người dân thấp cổ bé miệng. Những người cầm viết trên khắp thế giới rất quan tâm đến những ngòi bút bị nạn. Toàn cầu có khoảng 800 nhà báo và ngòi bút bị giam cầm, bị tấn công, và thậm chí là bị sát hại. Cho nên Văn bút Quốc tế kêu gọi các đồng nghiệp của mình lên tiếng phản đối.
Chúng tôi làm điều này đối với trường hợp của Việt Nam, Trung Quốc, Nga, hay ngay tại Châu Âu khi chúng tôi phát hiện có những cây viết bày tỏ tư tưởng mà bị kiểm duyệt và sách nhiễu. Trách nhiệm của chúng tôi là phải ủng hộ và bảo vệ những ngừơi cầm bút thực hành nghiệp vụ của họ.
Trà Mi: Bên cạnh việc lên tiếng thể hiện sự quan tâm, Văn bút Quốc tế có đề ra những hành động thiết thực nào nữa để bảo vệ những nạn nhân này không?
Bà Sara Whyatt: Ngoài việc lên tiếng bày tỏ quan ngại, chúng tôi còn vận động sự quan tâm và nhắc nhở các chính phủ rằng các vi phạm nhân quyền đang bị coi thường tại các quốc gia như ở Việt Nam, và yêu cầu họ đặt điều kiện cải thiện nhân quyền trong các cuộc đàm phán ngoại giao với Hà Nội.
Chúng ta không thể xem nhẹ tầm quan trọng của việc nêu vấn đề lên, nhắc nhớ mọi người đừng để những sự vi phạm này “lọt sổ”.
Trà Mi: Xin chân thành cảm ơn bà Sara Whyatt đã dành thời gian cho cuộc phỏng vấn này.
---------------------------------- Bà Sara Whyatt hiện là Giám đốc chương trình của Ủy ban bảo vệ các ngòi bút bị cầm tù thuộc Tổ chức Văn bút Quốc tế.
BBC Cập nhật: 16:05 GMT - thứ ba, 14 tháng 4, 2009 Nhà đầu tư ở Việt Nam 'nằm thở'
Nhiều nhà đầu tư vào Việt Nam đang tạm hoãn các kế hoạch đầu tư giữa lúc có những tín hiệu 'tiêu cực' theo báo Los Angeles Times.
Bài viết trong số ra hồi cuối tuần qua nói rằng có nhà đầu tư thấy có 'quá nhiều điểm tiêu cực' tại Việt Nam trong thời điểm hiện nay.
Những công ty như Sony hay Canon đã đóng cửa nhà máy hay giảm hoạt động của họ vì khó khăn trong khi hãng xe hơi Trung Quốc Lifan cũng đã ngưng kế hoạch sản xuất xe ở Việt Nam, theo bài báo của tác giả Don Lee.
Nhà báo này trích lời các nhà đầu tư nói rằng trước đây Việt Nam được hưởng lợi từ cái nhìn Trung Quốc cộng một nhưng nay dường như lại bị sự dò xét Trung Quốc trừ một tác động.
Lý do là Trung Quốc đã có một loạt các biện pháp để cải thiện môi trường đầu tư sau khi gặp phải sự không thiện cảm của các nhà sở hữu vốn.
Bài báo nói Bắc Kinh đã khôi phục lại việc giảm thuế xuất khẩu, cải thiện cơ sở hạ tầng, giảm giá nhiên liệu, ổn định tỷ giá nhân dân tệ và tránh gây khó dễ cho nhà đầu tư.
Trong khi đó các vấn đề tại Việt Nam bắt nguồn từ việc không kiểm soát được lạm phát trong thời gian trước đây cho tới việc sụt giá của đồng Việt Nam và các cuộc biểu tình của công nhân ở những doanh nghiệp có vấn đầu tư nước ngoài.
Không phải tiểu TQ
Bài báo trên Los Angeles Times cũng nói Việt Nam không phải là Trung Quốc thu nhỏ theo nhận định của các nhà đầu tư vốn thay đổi cách nhìn Việt Nam như Trung Quốc cộng một.
Họ cho rằng Việt Nam không có cách 'chỉ huy và kiểm soát' để giải quyết mọi việc nhanh như ở Trung Quốc.
Điều này khiến cho việc giải phóng mặt bằng tốn thời gian hơn trong khi con đường mới nối thành phố Hồ Chí Minh và sân bay Tân Sơn Nhất mất vài năm vẫn chưa xây xong.
Trong thời gian gần đây Việt Nam cũng đã đưa ra một số biện pháp khuyến khích đầu tư, theo Don Lee, nhưng một số nhà đầu tư vẫn nói họ chưa cam kết trở lại.
''Nhiều công ty đang sơ tán nên chúng tôi quyết định hoãn kế hoạch của chúng tôi,'' ông Liu Guizhong, phó giám đốc ngoại thương của hãng sản xuất lò vi sóng lớn nhất thế giới có trụ sở ở Trung Quốc, Galanz Group nói.
Hãng này trước đây từng định đầu tư 25 triệu đô la để xây nhà máy sản xuất tại Việt Nam. Nhiều nhà đầu tư khác trong khi đó nhìn Việt Nam với tầm nhìn dài hơn.
Los Angeles Times cũng cho rằng lý do khiến các nhà đầu tư nhìn Việt Nam như Trung Quốc trừ một phần nhiều vì các tiến bộ ở Trung Quốc hơn là những khó khăn tại Việt Nam.
Một khảo sát trong năm nay cho thấy một nửa số người có ý định rời Trung Quốc sang các nơi khác trong đó có Việt Nam cách đây một năm đã thay đổi ý định và ở lại Trung Quốc.
Bài báo cũng đưa ra những ví dụ về thực tế khó khăn ở Việt Nam về mặt nhân lực như cố gắng tìm kiếm người lành nghề bất thành của hãng chip Intel.
Họ nói bất chấp lực lượng lao động trẻ và thông minh, hệ thống đại học ở Việt Nam vẫn quá lý thuyết và phi thực tế.
Công nhận là tăng trưởng kinh tế năm 2009 chỉ đạt từ 5 đến 5,5% Trọng Nghĩa RFI Bài đăng ngày 15/04/2009 Cập nhật lần cuối ngày 15/04/2009 15:11 TU
Phát biểu hôm nay nhân cuộc hội đàm với cựu thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu hiện đang viếng thăm Việt Nam, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố trong năm 2009, tỷ lệ tăng trưởng của Việt Nam sẽ chỉ đạt mức như trên
Trong thời gian gần đây, khủng hoảng toàn cầu càng lúc càng tác động đến Việt Nam, đặc biệt là đến ngành xuất khẩu, động lực tăng trưởng chủ đạo của kinh tế Việt Nam. Ba thị trường chính của hàng Việt Nam là Hoa Kỳ, Châu Âu và Nhật Bản đều bị suy thoái, khiến cho hàng nhập khẩu từ Việt Nam bị sụt giảm đáng kể.
Trong những ngày qua, Ngân hàng Thế giới giảm mức dự báo tăng trưởng của Việt Nam xuốn còn 5,5% trong lúc Quỹ Tiền tệ Quốc tế FMI thì đưa ra tỷ lệ 4,75%. Bi quan nhất là Ngân hàng Phát triển Châu Á đã cho rằng tăng trưởng Việt Nam trong năm nay chỉ đạt 4,5%.
Vietnam Airlines chuẩn bị gia nhập liên minh Skyteam
Hãng hàng không Việt Nam chuẩn bị gia nhập Skyteam, liên minh bao gồm 10 hãng hàng không trong đó có Air France của Pháp, Delta Airlines của Mỹ, hay Korean Air của Hàn Quốc.
Một thoả thuận đã được ký kết hôm nay vào tại Hà Nội, mở đường cho việc Vietnam Airlines tham gia liên minh Skyteam kể từ năm tới.
Cũng trong lãnh vực kinh tế, chính quyền Việt Nam vừa quyết định đình chỉ dự án của tập đoàn Pháp Accor muốn xây dựng một khách sạn tại Công viên Thống Nhất ở Hà Nội. Đề án này từng bị phản đối với lý do là vi phạm một vùng cây xanh cần thiết cho thành phố Hà Nội.
Thủ tướng VN sẽ đến TQ dự Diễn đàn Kinh tế Bác Ngao VOA 15/04/2009
Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng sẽ đến Trung Quốc để tham dự Diễn đàn Kinh tế Bác Ngao khai mạc vào thứ sáu tuần này trên đảo Hải Nam.
Bản tin hôm thứ tư của Tân Hoa Xã cho biết ông Nguyễn Tấn Dũng nằm trong số 13 nhà lãnh đạo quốc gia hoặc chính phủ đến dự Diễn đàn Châu Á Bác Ngao thường niên lần thứ 8.
Trong số các quan khách ngoại quốc đến dự hội nghị 3 ngày này có cựu Tổng thống George W Bush của Mỹ.
Chủ đề của hội nghị năm nay là 'Châu Á: Nỗ lực vượt qua khủng hoảng'. Các đại biểu sẽ thảo luận về những thách thức và triển vọng mà vụ khủng hoảng kinh tế toàn cầu mang lại cho Châu Á.
Trang tin điện tử của chính phủ Việt Nam cho biết Việt Nam đã 3 lần tham dự Diễn đàn Kinh tế Bác Ngao ở cấp Phó Thủ tướng, Năm nay, lần đầu tiên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dự diễn đàn này.
Bản tin cho biết điều này thể hiện sự coi trọng của Việt Nam đối với nước chủ nhà Trung Quốc và mối quan hệ hợp tác tốt đẹp Việt Nam-Trung Quốc.
Trong dịp này, ông Nguyễn Tấn Dũng cũng sẽ đến thăm tỉnh Quảng Đông và hai đặc khu hành chánh Hồng Kông và Ma Cao của Trung Quốc.
“Bật đèn xanh” cho tinh thần yêu nước? (phần cuối)
Trà Mi, phóng viên đài RFA 2009-04-13
Trên Diễn Đàn 2 tuần qua, các bạn trẻ đã tham gia chia sẻ cảm nghĩ về cuộc vận động của nhà nước tuyên truyền kiến thức biển đảo-chủ quyền lãnh thổ để kêu gọi người dân nâng cao tinh thần yêu nước.
Theo các bạn, động thái này chỉ là yếu tố “cần”, chứ chưa “đủ” để có thể khơi dậy lòng tin trong dân chúng sau hàng loạt các biện pháp đàn áp quyết liệt của nhà nước nhằm trấn dẹp các cuộc biểu tình và những tiếng nói chống Trung Quốc xâm lấn Hoàng Sa-Trừơng Sa của Việt Nam.
Trí thức phải là những người định hướng
Trong lúc chờ đợi những thiện chí “đủ” từ phía nhà nước, người trẻ cần phải làm gì để vượt qua những trở ngại “nhạy cảm” khi thể hiện lòng yêu nước của mình?
Mời quý vị theo dõi phần kết loạt hội luận trong chương trình hôm nay, với các bạn Thắng, Lộc, Hạnh ở Hà Nội và Hùng từ Sài Gòn.
Hùng : Thiện chí từ phía người dân là sự chủ động từ trong chính mỗi người dân, nhưng bây giờ muốn quần chúng nhân dân chủ động và có thiện chí trong vấn đề chủ quyền lãnh thổ, trong vấn đề chính trị của đất nước thì đội ngũ trí thức phải là những người định hướng và tự bản thân người dân cũng phải tự trao dồi cái nội lực của người ta để người ta có cái tầm nhìn về đất nước.
Bây giờ nhìn trên bình diện chung của đất nước, tôi đi nhiều nơi, tôi gặp nhiều người, rất nhiều người nông dân loay hoay với lại nồi cơm và manh áo thì làm sao người ta có cái nhìn cao xa. Chính những người trí thức chúng ta phải là những người có thiện chí đầu tiên, là chúng ta phải định hướng cho quần chúng vốn chưa thấy được vấn đề này thông qua những sự giao tiếp xã hội bình thường.
Đó là chúng ta đã tỏ thiện chí của chúng ta rồi.
Trà Mi : Các anh khác có ý kiến nào khác không ? Thắng : Tôi nói một chút. Trà Mi : Mời anh Thắng.
Thắng : Tôi thì tôi nghĩ là cái đảng cộng sản trên thực tế nó chỉ là một thứ ký sinh trên dân tộc ta đấy thôi. Nó chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định. Tôi thì tôi nghĩ rằng cái đảng này rất là nhu nhược, nó quá kém, nó quá nhu nhược. Chúng ta hoàn toàn có những điều kiện, cơ sở cuả chúng ta, chúng ta có lòng nhân dân, chúng ta có rất nhiều thứ nhưng mà người ta vẫn sợ. Cái đấy một phần vì quyền lợi, một phần do cái bản năng cố hữu của dân tộc này. Nó rất khó thay đổi.
Trà Mi : Cảm ơn ý kiến của anh Thắng. Thế anh Lộc và anh Hạnh, các anh có phát biểu nào muốn bổ sung thêm. Theo như anh Hùng và anh Thắng vừa nói thì người dân cần phải chủ động hơn nữa, thể hiện mạnh mẽ hơn nữa những tiếng nói độc lập và chính kiến của mình. Thế còn các anh?
Lộc : Theo như ý anh Thắng nói là chính xác, trong tư tưởng của em đúng là Đảng Cộng Sản Việt Nam chỉ là ký sinh trên dân tộc mình. Đảng mạnh bao nhiêu thì dân tộc mình què quặt và yếu hèn bấy nhiêu. Em nói thật em không bao giờ trông mong vào đảng có thể làm được cái gì đấy để mà áp lực thực sự đối với Trung Quốc. Bản thân em luôn luôn nghĩ rằng đảng cộng sản VN sợ mất lòng Trung Quốc nên đã cố tình làm những vụ báo chí như thế để đá quả bóng sang cho dân, có nghĩa là lấy tiếng nói của dân để mà phản đối.
Mượn lời nói của người dân
Trà Mi : Hiện giờ với những gì mà báo chí nhà nước đang đăng tải thì cũng thấy là nhà nước cũng đang mở đường khơi dậy tình yêu nước và tinh thần bảo vệ lãnh thổ trong nhân dân, trong giới trẻ. Đây cũng là một điều kiện tốt để người trẻ hiểu biết có thể chia sẻ những hiểu biết của mình đối với số đông đại quần chúng, những người chưa được biết. Nhưng nếu như các anh đã nói là các anh không tin tưởng vào những biện pháp tuyên truyền này thì các anh kỳ vọng gì hơn nữa ?
Hùng : Tôi xin có ý kiến trước. Tôi đề nghị là nhà nước nên cho phép thanh niên biểu tình tiếp là tại vì như thế này, trên mặt đàm phán ngoại giao, nếu mà bản thân nhà nước có những rắc rối với Trung Quốc do những văn bản đã ký ngày xưa, do những sai lầm trong quá khứ, thì nhà nước có thể chối đi bằng cách là trong cái thủ thuật chính trị người ta gọi là "đổ" đó, có nghĩa là kiểu như “những người đi biểu tình là họ tự đi biểu tình chứ chúng tôi có khuyến khích đâu !”.
Cứ cho thanh niên sinh viên mạnh dạn tụ tập biểu tình trước các cơ quan ngoại giao và các phái đoàn tư nhân doanh nghiệp Trung Quốc đang làm ăn tại Việt Nam. Và chúng ta biểu tình trong ôn hoà trật tự. Điều thứ nhứt, nhà nước một mặt về thủ tục ngoại giao thì nhà nước mượn quần chúng để nhà nước nói, nhưng mặt khác nhà nước có thể từ chối trách nhiệm đó đối với Trung Quốc, đó là cái thiện chí đầu tiên.
Và tôi nghĩ cái này có thể khả thi. Giống như vừa rồi ở bên Trung Quốc, quần chúng Trung Quốc đưa lên một kế hoạch là đánh chiếm Việt Nam trong 30 ngày thì Việt Nam có một công hàm phản đối việc Trung Quốc cho đăng tải những tin đó.
Lập tức thứ trưởng Bộ Ngoại Giao Trung Quốc trả lời rằng quan điểm của nhà nước Trung Quốc là cư xử với nhà nước Việt Nam là hoà bình, là thế nọ thế kia, hợp tác phát triển lâu dài, còn cái việc đó là việc của quần chúng, chúng tôi sẽ kiểm tra và chấn chỉnh sau.
Đó, họ đã thi hành các biện pháp ngoại giao như thế thì chúng ta cũng thi hành lại những biện pháp như thế. Nó nằm trong tầm tay và trong khả năng của nhà nước có thể làm được trong tình thế bây giờ.
Trà Mi : Dạ. Cảm ơn ý kiến anh Hùng. Và dĩ nhiên là sự cho phép này không chỉ gói gọn trong việc cho phép đi biểu tình mà có thể là cho phép người dân mạnh dạn thể hiện quan điểm của mình, lòng yêu nước của mình một cách thoải mái?
Hùng : Đúng rồi.
Đa phương hoá vấn đề Biển Đông
Trà Mi : Ba anh còn lại thì Trà Mi muốn được hỏi thăm thêm là nếu như có dịp hồi đáp lại lời tuyên truyền này thì các anh sẽ nói gì với những người lãnh đạo? Mời ý kiến của các anh.
Thắng : Về phần tôi, tôi nghĩ rằng nhà nước có thể có rất nhiều cách, trong đó có việc kích động phong trào quần chúng là một trong những cách người ta có thể làm. Có nhiều phương diện mà người ta có thể làm. Đầu tiên là ở phương diện ngoại giao, phương diện quốc tế. Thứ hai là phương diện quốc nội. Ở quốc nội cái việc người ta kích thích tinh thần dân tộc, nhen nhóm lên lòng yêu nước là một phần, và cũng để nói lên cho thế giới biết rằng Việt Nam từ trước tới nay đều như thế cả. Đấy là của Việt Nam. Người ta làm cho người Việt Nam biết, nhưng người ta cũng làm cho thế giới người ta biết.
Trên mặt trận ngoại giao, nếu mà tôi có thể góp ý được chính phủ thì tôi mong là người ta có thể kết hợp với nhiều nước khác ở xung quanh đây và những nước mạnh ở xa để kiềm chế bớt tinh thần hung hăng của Phương Bắc.
Trà Mi : Vâng. Cảm ơn ý kiến anh Thắng. Mời anh Lộc và anh Hạnh.
Lộc : Em là Lộc. Em cũng đồng ý với ý kiến của anh Thắng. Bây giờ hiện tại Việt Nam chúng ta về nội lực rất yếu, chúng ta sống gần một nước khổng lồ thì chúng ta có thể thực hiện chính sách ngoại giao Đông-Tây để làm mạnh nội lực của ta lên, tức là chúng ta phải lôi kéo, đa phương hoá vấn đề Biển Đông, ví dụ như Hoa Kỳ, Singapore, Thái Lan. Nếu mà ta lôi kéo được họ quan tâm tới vấn đề Biển Đông thì hẳn là Trung Quốc sẽ rất e dè khi mà thể hiện bành trướng ở Biển Đông. Mọi người hãy chuẩn bị cho mình kiến thức để mà nhận thức vấn đề này kỹ hơn, tốt hơn. Còn hành động thì theo tôi nghĩ là rất khó. Thời điểm bây giờ chính phủ có thể thực hiện những chiến dịch ngoại giao khôn khéo đối với Phương Tây, đối với Đông Nam Á.
Vẫn còn e ngại khi bầy tỏ chính kiến
Trà Mi : Đó là nói về đối ngoại, nhưng đối nội là trọng tâm mà mình đang bàn thảo tới đây. Hiện giờ nhà nước có những chính sách đối nội để khơi dậy lòng yêu nước, thì bây giờ xin trở lại với chủ đề chính đó. Vậy theo ý các anh thì nhà nước nên khơi dậy tình yêu nước và tinh thần bảo vệ lãnh thổ trong giới trẻ bằng cách nào thực tế hơn những lời tuyên trưyền vận động trên báo chí như thế này ?
Lộc : Nhà nước phải có những hành động mà không khiến cho người dân trong nước sợ hãi khi bày tỏ chính kiến.
Trà Mi : Và những hành động đó cụ thể như thế nào?
Lộc : Như là cho phép người dân có thể biểu tình ôn hoà về vấn đề Hoàng Sa-Trường Sa, về vấn đề biển đảo. Biểu tình ôn hoà để bày tỏ lòng yêu nước để giữ chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa là một tinh thần dân tộc. Nếu mà có một người đứng đầu mà nói được những điều như vậy thì chắc chắn là sinh viên học sinh, tất cả mọi người đều thể hiện lòng yêu nước của họ. Ví dụ nhà nước có thể có hành động như thả những người bị bắt vì họ đã thể hiện lòng yêu nước trước đây. Nếu nhà nước có những hành động như thế thì người dân sẽ ra ngoài đường thể hiện lòng yêu nước của mình, còn hơn chỉ là những bài báo bóng bẩy ở trên báo chỉ làm cho người dân có cảm giác bấp bênh.
Trà Mi : Cảm ơn ý kiến vừa rồi của anh Lộc. Thế còn anh Hạnh ?
Hạnh : Những cái gì anh Lộc nói thì đã nói lên hết ý kiến của em rồi. Em thấy rất là thất vọng bởi vì mỗi khi dân tộc Trung Quốc mạnh lên bao nhiêu thì các nước lân cận bị đe doạ bấy nhiêu.
Trà Mi : Tóm lại là các anh đều chưa mấy tin tưởng vào những lời kêu gọi vận động kiểu này mà chờ mong, kỳ vọng những hành động thiết thực hơn như là cho phép người dân tự do bày tỏ quan điểm của mình trên các trang blog, trên các phương tiện truyền thông đại chúng, cũng như là thể hiện quan điểm bằng cách xuống đường, phải không ạ?
Các bạn trẻ : Dạ, dạ. Tụi em sẵn sàng cho những cuộc xuống đường như thế.
Hạnh : Thật ra nghĩ đi nghĩ lại thấy thật khó trong trường hợp Trung Quốc gọi đại sứ quán VN ở Bắc Kinh lên để phản đối thì lúc đấy chính phủ ta không biết ăn nói như thế nào bởi vì hiện tại đảng đang bị kiềm kẹp bởi Trung Quốc.
Trà Mi : Bây giờ ngay thời điểm này thì các bạn trẻ vẫn còn nhiều lo ngại và nhiều nghi ngại ? Các bạn trẻ : Vâng.
Trà Mi : Cảm ơn các anh rất nhiều đã dành thời gian cho chương trình này. Chúng tôi cũng mong chương trình sẽ mang đến cho những thính giả gần xa những chia sẻ tâm tình từ giới trẻ trong nước. Mong được tái ngộ với các anh trong những chủ đề sau.
Rất cảm ơn các anh và xin chào tất cả các anh.
Thứ Tư, 15/04/2009 - 11:31 AM Chủ tịch HĐQT bị tố cưỡng bức nữ sinh lớp 10
Chủ tịch HĐQT một doanh nghiệp sản xuất nhựa tại Gia Lâm (Hà Nội) vừa bị gia đình nữ sinh lớp 10 tố cáo đã cưỡng bức con gái họ tại nhà nghỉ.
Theo gia đình nữ sinh, chiều 10/4, doanh nhân này (29 tuổi) cùng một số thanh niên gặp con gái họ ở một quán cà phê. Tối đó, anh này điện thoại rủ cô gái đi chơi.
Sau khi lòng vòng trên phố, vị chủ tịch Hội đồng quản trị đưa nữ sinh vào một nhà nghỉ ở Long Biên. Trước khi ép nữ sinh phải “quan hệ”, anh này bắt cô cởi quần áo rồi dùng điện thoại di động vờ chụp ảnh rồi đe dọa đưa lên mạng.
Hoảng loạn, cô gái kể lại sự việc trên với một người bạn mà không dám nói với gia đình. Khi biết việc, gia đình nữ sinh đã trình báo với cảnh sát.
Công an Hà Nội đang điều tra vụ việc.
Theo K.Hương - Giadinh.net
Tiền Phong, Thứ Tư, 15/04/2009, 16:19 45 tuổi vẫn bán dâm
Mỗi khi có khách mua dâm thì "tú bà" Lê Thị Vân (46 tuổi) gọi các em đến, bất kể ngày hay đêm. Một "em" của Tú bà này đã 45 tuổi.
12h15 ngày 10/3, Phòng CSĐT tội phạm về TTXH Công an tỉnh Quảng Ngãi (PC14) đánh ập vào nhà nghỉ Kim Tấn tại tổ 13, phường Nghĩa Lộ (TP Quảng Ngãi) bắt quả tang 2 đôi nam nữ đang mua bán dâm.
2 nữ bán dâm là Nguyễn Thị Kim L., 45 tuổi, thường trú tại xã Nghĩa Hiệp, Tư Nghĩa (Quảng Ngãi) và Nguyễn Thị Gái, 31 tuổi, thuờng trú tại TP Tuy Hoà (Phú Yên), 2 đối tượng mua dâm là Nguyễn Anh D., 42 tuổi, ngụ ở Bình Sơn và Huỳnh Thế V., 34 tuổi, ngụ ở Mộ Đức (Quảng Ngãi). Chủ ổ mại dâm trá hình trong nhà nghỉ Kim Tấn này là Lê Thị Vân, 46 tuổi trú tại nhà nghỉ.
Qua điều tra ban đầu được biết: Vân đã kinh doanh karaoke và chuyển sang chứa mại từ nhiều tháng qua, gây mất an ninh trật tự trên địa bàn.
Thủ đoạn hoạt động của bà là mỗi khi có khách mua dâm thì bà gọi các em đến, bất kể ngày hay đêm. Mỗi một lần mua bán dâm, khách phải trả từ 150 - 200 ngàn đồng, sau đó các gái phải chi trả cho chủ chứa theo thoả thuận. Ngoài ra, bà Vân còn cung cấp bao cao su tại chỗ cho khách có nhu cầu.
Ngay sau bắt quả tang, Phòng PC14, Công an Quảng Ngãi đã thực hiện bắt khẩn cấp chủ chứa Lê Thị Vân và các đối tượng mua bán dâm về hành vi chứa chấp và mua bán mại dâm
Theo Văn Nam - CAND
Thứ Tư, 15/04/2009 - 6:57 PM Hà Nội: Lại một vụ dùng súng bắn người trên phố
(Dân trí) - Vụ nổ súng được ghi nhận xảy ra tại Hà Nội vào đêm qua 14/4. Đã có 4 phát súng vang lên trên phố Phùng Hưng và một người gục xuống trong vũng máu...
Thông tin ban đầu cho biết, khoảng 23h40 ngày 14/4, có 2 thanh niên đi trên một xe máy SH đến trước cửa nhà 121 Phùng Hưng, quận Hoàn Kiếm gặp một người. Không lâu sau đó, nhiều phát súng vang lên và người này gục xuống bãi máu.
Hiện đã xác định được nạn nhân là anh Hoàng Lai Nam (ở 12 ngõ 16 dốc Thọ Lão, quận Hai Bà Trưng). Anh Nam mang trên mình nhiều thương tích, trong đó có 1 nhát dao chém trúng vai trái và 2 nhát vào sườn trái.
Ngoài ra, có nguồn tin cho biết hung thủ đã nổ tới 4 phát đạn. Hiện Công an quận Hoàn Kiếm đang phối hợp cùng các lực lượng liên quan tiến hành điều tra.
Trước đó, khoảng 9h30 ngày 12/4, tại xóm Nhì, xã Vân Nội, huyện Đông Anh, do mâu thuẫn bột phát, đã xảy ra đánh nhau giữa Nguyễn Văn Việt (SN 1975) và Phạm Văn Hùng (SN 1982), đều ở xóm Nhì.
Em trai Phạm Văn Hùng là Phạm Mạnh Hùng (SN 1984), đã mang súng hơi bắn Việt gây thương tích.
Thứ Tư, 15/04/2009 - 7:47 AM Dùng súng bắn chết người trong quán gội đầu
(Dân trí) - Một thanh niên đang ngồi chơi ở quán cắt tóc gội đầu đã bị 2 thanh niên đi xe máy tạt qua, dùng súng bắn đạn hoa cải bắn chết. Vụ việc xảy ra vào tối 12/4 tại huyện Đông Triều, Quảng Ninh.
Lúc đó là khoảng 21h ngày 12/4, anh Phạm Văn Tân (SN 1970, trú tại khu Vĩnh Tân, thị trấn Mạo Khê, huyện Đông Triều) ngồi chơi tại quán cắt tóc gội đầu của chị Đặng Thị Nhàn ở khu Vĩnh Hồng, thị trấn Mạo Khê.
Ít phút sau đó, xuất hiện hai thanh niên đi trên một xe máy bất ngờ rút súng bắn đạn hoa cải bắn chết người thanh niên này.
Công an tỉnh Quảng Ninh đã chỉ đạo các đơn vị chức năng và Công an huyện Đông Triều khám nghiệm, tập trung lực lượng điều tra.
Tuổi Trẻ - Thứ Tư, 15/04/2009, 15:38 (GMT+7) Phú Thọ: một chủ tiệm vàng bị giết ngay tại nhà
TTO - Rạng sáng 15-4, ông Đỗ Tiến Hải, sinh năm 1958, chủ tiệm vàng bạc Thủy Hải, khu Tân Tiến (huyện Đoan Hùng, Phú Thọ) đã được phát hiện chết ngay tại nhà.
Khoảng 3g20, nghe thấy có tiếng kêu cứu phát ra từ trong cửa hàng, hàng xóm đến nơi thấy cửa bị khóa chặt nên đã gọi điện báo Công an TT Đoan Hùng. Công an phải dùng cưa sắt phá cửa và phát hiện một thi thể nằm gục cạnh két sắt với nhiều vết thương trên người do bị đâm.
Ông Hải là người chuyên kinh doanh vàng bạc tại TX Phú Thọ (Phú Thọ), năm 2007 gia đình mở thêm một cửa hàng kinh doanh vàng bạc tại TT Đoan Hùng và ông là người trực tiếp quản lý. Tiệm thuê một số người giúp việc và chế tác làm việc vào ban ngày, còn ban đêm chỉ có mình ông Hải ngủ lại. Hiện tại cơ quan công an đã niêm phong ngôi nhà để điều tra làm rõ nguyên nhân.
Theo nguồn tin ban đầu, có thể ông Hải đã bị giết sau khi phát hiện kẻ gian định đột nhập vào nhà trộm tài sản.
Thứ Tư, 15/04/2009 - 5:54 PM Lạng Sơn: Bắt “mẹ mìn” 17 tuổi sau nhiều ngày lẩn trốn
(Dân trí) - Hôm qua, Công an tỉnh Lạng Sơn đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh tạm giam đối với “mẹ mìn” 17 tuổi Khuất Thị Phương về tội mua bán phụ nữ, trẻ em. Khuất Thị Phương sinh năm 1992, trú xã Tú Mịch, huyện Lộc Bình (Lạng Sơn).
Phương cùng Nguyễn Văn Quyền (trú tại Pò Mục, huyện Lộc Bình) và một đối tượng tên Hương đã lừa bán Ngô Thị Q (18 tuổi, trú tại TP Lạng Sơn) và N (bạn Q) sang Trung Quốc. Ngày 25/4/2008, sau khi trốn thoát từ Trung Quốc về Lạng Sơn, Q đã đến công an tố giác sự việc.
Sau khi tiếp nhận đơn tố cáo, cơ quan CSĐT đã tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ và ra quyết định bắt tạm giam đối với Quyền về tội mua bán trẻ em. Vào thời điểm đó, Khuất Thị Phương đã bỏ trốn khỏi địa phương.
Ngay sau đó, cơ quan CSĐT đã ra quyết định truy nã toàn quốc đối với Khuất Thị Phương. Đến ngày 10/4/2009, “mẹ mìn” 17 tuổi này đã bị bắt giữ khi đang trên đường vượt biên từ Trung Quốc trở về Việt Nam.
Vụ việc đang được cơ quan CSĐT hoàn tất hồ sơ để đưa ra xét xử.
Thứ Tư, 15/04/2009 - 9:20 AM Hơn 25 lâm tặc chặn đánh kiểm lâm ở Bình Định
(Dân trí) - Vào lúc 3 giờ ngày 13/4, trong lúc thi hành nhiệm vụ, tổ công tác 7 người của Hạt Kiểm lâm Hoài Ân (Hoài Ân, Bình Định) bất ngờ bị một nhóm lâm tặc trên 25 tên chặn đầu hành hung khiến 2 người bị thương.
Nhận được tin báo có một số đối tượng vận chuyển lâm sản trái phép từ Hoài Ân xuống huyện Hoài Nhơn tiêu thụ, Hạt Kiểm lâm huyện Hoài Ân đã chỉ đạo tổ công tác gồm 7 người ngăn chặn các đối tượng.
Đến khu vực giáp ranh giữa thôn Du Tự, thị trấn Tăng Bạt Hổ (Hoài Ân) và xóm Phú Nga, thôn Lại Khánh, xã Hoài Đức (Hoài Nhơn), tổ công tác bị một nhóm lâm tặc trên 25 người đón đầu, sử dụng cây và đá đánh; 2 kiểm lâm viên bị đánh trọng thương, phải đi cấp cứu. Trên đường chở 2 chiến sỹ bị trọng thương vào Bệnh viện huyện Hoài Ân cấp cứu, đoàn kiểm lâm vẫn bị các đối tượng tiếp tục truy đuổi và chặn đánh.
Trước tình hình nguy cấp, kiểm lâm viên Huỳnh Ngọc Huy đã phải bắn 3 phát súng chỉ thiên nhưng toán lâm tặc không ngừng tấn công, buộc anh Huy phải bắn tiếp 2 phát súng xuống đất, lúc đó đám lâm tặc mới bỏ chạy. Hai chiến sỹ kiểm lâm bị thương là Phan Văn Thành và Trần Ngọc Hưng đang được điều trị tại biệnh viện.
Ngành chức năng của huyện Hoài Ân đang tiến hành điều tra, làm rõ các đối tượng đánh kiểm lâm để xử lý theo pháp luật.
Hà Nội: Xe công an không cấp cứu người bị tai nạn Lao Động số 82 Ngày 15/04/2009 Cập nhật: 8:12 AM, 15/04/2009
(LĐ) - Hồi 14h20 ngày 14.4, tại ngã tư Chùa Bộc - Thái Hà đã xảy ra vụ TNGT giữa xe ôtô và xe máy, làm người điều khiển xe máy bị thương.
Theo ghi nhận của chúng tôi, xe ôtô BKS 89B - 2359, do Nguyễn Ngọc Điệp (SN 1987, ở TP.Hưng Yên) điều khiển, khi đến ngã tư trên, Điệp cho xe chuyển làn theo tín hiệu đèn giao thông thì bị xe máy BKS 29S3 - 5381 do ông Nguyễn Đức Hợi (SN 1947, ở 240 Bùi Xương Trạch, Thanh Xuân, Hà Nội) điều khiển, không làm chủ tốc độ húc phải ôtô, ông Hợi bị thương nặng.
Tuy nhiên, ngay sau khi xảy ra tai nạn, trong lúc ông Hợi bị thương nặng, Điệp đã không cấp cứu mà lớn tiếng bắt đền, khiến người dân phải đưa ông Hợi đến Bệnh viện Đống Đa cấp cứu. Được biết, chiếc xe ôtô va chạm với xe máy là xe của CA tỉnh Hưng Yên. Hiện vụ tai nạn đang được Đội CSGT số 3 Phòng CSGT - CATP thụ lý điều tra.
Tiền Phong, Thứ Tư, 15/04/2009, 14:42 TPHCM: Cho thuê vỉa hè giá 10.000 - 70.000đ/m²/tháng
Dự thảo thu phí sử dụng tạm thời một phần vỉa hè, lòng đường ở TPHCM đã được Sở Tài chính và Sở Giao thông hoàn tất, chuẩn bị trình UBND thành phố phê duyệt.
Theo đó, mức thu dự kiến như sau: Người dân sử dụng vỉa hè - lòng đường - lề đường để kinh doanh buôn bán trên các tuyến đường chính quận 1, 3, 4, 5, 10, 11, Phú Nhuận, có thể phải trả 50.000đ/m²/tháng.
Người sử dụng vỉa hè để kinh doanh ở các quận 6, 7, 8, 12, Gò Vấp, Tân Bình, Tân Phú, Bình Thạnh sẽ phải trả 35.000đ/m²/tháng.
Những quận huyện còn lại tính giá thuê 25.000đ, riêng huyện Cần Giờ người dân chỉ phải thuê 10.000đ/m²/tháng.
Nếu vỉa hè - lòng đường - lề đường được dùng để giữ xe, đậu xe công cộng có thu phí thì mức thu từ 20.000 đến 70.000đ/m²/tháng tùy khu vực.
TP cũng sẽ cho phép các cửa hàng kinh doanh được sử dụng vỉa hè để khách hàng để xe. Các điểm kinh doanh hằng tháng phải nộp cho thành phố từ 15.000đ đến 30.000đ/m² tiền thuê vỉa hè.
Các hộ không kinh doanh, có việc cưới, tang… mà chỉ để xe tự quản trước cửa nhà phục vụ sinh hoạt gia đình thì sẽ không phải trả phí.
Theo SGGP Đoàn Quân Âm Hồn.
" Thông điệp của những người lính CSBV tử trận , kêu gọi đến với mọi người VN trong cũng như ngoài Nước phải hành động gấp ! "
http://www.take2tango.com/?display=6662
(Nguồn Take2tango)
Đoàn Quân Âm Hồn !
Chiếc phi cơ quân sự rời khỏi phi đạo của phi trường Đà Nẵng lúc hai mươi bốn giờ mười bảy phút vào một ngày giữa tháng tư....
Tôi quay mặt nhìn ra ngoài trời qua khung cửa sổ nhỏ rồi nhìn xuống thành phố đang xa dần phía dưới vẫn còn sáng rực bởi những ngọn đèn điện ngoài đường phát ra,thành phố này đã cưu mang tôi trong những tháng ngày dài mà tôi đã đến làm việc trong thời gian vừa qua. Tôi đang tham dự một công tác đặc biệt là hoạt động thăm dò một đại đơn vị cộng sản Bắc Việt ở một vùng rừng già bên kia vĩ tuyến thứ mười bảy trong thời gian tám ngày. Tôi quay người lại nhìn bảy người lính trẻ dưới quyền tôi và anh Trung sĩ làm phó toán cho tôi,cả tám người đang ngồi dựa lưng vào thành ghế được đặt dọc theo hai bên thân máy bay, những người lính trẻ và can trường này sẽ sống chết cùng tôi trong chuyến đi này.Đây là những người lính còn rất trẻ có thân hình lực lưỡng và tinh thần yêu nước tuyệt đối,những người lính này đã tình nguyện và được tuyển chọn rồi được huấn luyện đặc biệt để thi hành công tác này.Những người lính trẻ cho đến lúc này trên khuôn mặt họ vẫn bình thản như mọi ngày và không hề có một nét gì chứng tỏ là họ có lo lắng hoặc sợ hãi. Tám người lính đang nhắm nghiền đôi con mắt lại như để được tận hưởng những giờ phút nghỉ ngơi ngắn ngủi vì chỉ còn khoảng hơn một tiếng đồng hồ nữa là những người lính này sẽ cùng với tôi khó mà có thể tìm được những giờ phút yên tĩnh quý báu như hiện tại. Đèn hiệu màu đỏ nhấp nháy lần thứ nhất báo cho tôi biết sắp đến địa điểm.Tôi nhìn những người lính và gật đầu ra dấu rồi cùng họ đứng lên kiểm soát lại ba lô súng đạn và móc dây dù vào nơi quy định để nhảy khi đèn hiệu báo lần thứ hai. Bốn phút sau, đèn báo hiệu lần thứ hai phát ra khi chiếc máy bay đã đến đúng địa điểm, tám người lính và tôi cùng lần lượt nhảy dù xuống. Trung sĩ Thành, phó toán đã tập hợp bảy người lính lại để nghe tôi thông báo: - “Sau buổi nói chuyện ngắn ngủi này thì chúng ta sẽ lên đường và trong khi di chuyển các bạn cố gắng đừng để thất lạc nhau và nhớ là phải quan sát thật kỹ vì trong khu rừng này hiện có mặt một đại đơn vị của cộng quân mà chúng ta có nhiệm vụ thăm dò.Chúng ta tránh tối đa chạm súng với bọn chúng,chúng ta phải hoàn thành nhiệm vụ sao cho đến ngày thứ tám chúng ta sẽ phải có mặt tại địa điểm để được bốc về.Tôi lập lại là tất cả các bạn cố gắng đừng để thất lạc nhau và nếu chẳng may có một ai đó trong chúng ta bị Việt cộng bắt được thì cố gắng chịu đựng một mình chứ đừng nghe những lời dụ dỗ của bọn chúng vì bọn Việt cộng không bao giờ biết giữ lời hứa và tôn trọng các hiệp định đã ký kết,kể cả hiệp định về tù binh.” Có lẽ tám người lính đang nhìn tôi và nghe tôi nói nhưng vì trời quá tối và hơn nữa mặt mũi của chúng tôi đang được ngụy trang bởi cùng một màu đen nên tôi không thể thấy rõ được, chúng tôi cùng lên đường tiến đến mục tiêu. * Đã hai ngày đêm trôi qua êm đềm trong khu rừng già.Ngày thứ ba,vào buổi xế chiều chúng tôi đến gần một cái làng,có lẽ là cái làng của người thiểu số,tôi nghĩ vậy.Tôi quan sát thật kỹ và không thấy có một dấu hiệu nào chứng tỏ là có dân chúng sống trong làng và tuyệt nhiên cũng không thấy có bóng dáng một người lính Việt cộng nào.Có lẽ cái làng này đã bị bỏ hoang từ lâu nên những mái nhà bằng tranh gần như không còn nguyên vẹn.Tôi chia toán lính ra làm hai, một theo Trung sĩ Thành và một theo tôi cùng tiến vào làng. Đúng đây là một bản làng của người thiểu số giữa rừng già vì tất cả mọi căn nhà đều là nhà sàn.Sau khi quan sát kỹ và biết chắc trong làng không có một người dân nào sinh sống,tôi cho lệnh đào hầm hố trú ẩn qua đêm. Khoảng nửa đêm,một người lính đã đánh thức tôi dậy và chỉ tay về phía cái sân rộng chính giữa làng.Tôi giật mình và nhìn vào cái đồng hồ dạ quang đeo nơi cổ tay,bây giờ đang là hai giờ mười phút sáng,trước mặt tôi một cảnh tượng kinh hoàng đang diễn ra làm tôi vô cùng hoang mang.Có khoảng một đại đội quân Việt cộng trang bị vũ khí đầy đủ đang đi lại trong làng và nói chuyện rất ồn ào,bọn lính Việt cộng nổi lửa nấu ăn lửa cháy sáng đỏ rực cả bầu trời.Tôi ngây mặt nhìn đoàn quân Việt cộng mà không thể hiểu được đoàn quân này từ đâu đến và làm cách nào họ vào được trong làng mà tám người lính của tôi không phát giác ra bởi vì các con đường dẫn vào làng đều có lính của tôi nằm phục sẵn.Với số lính đông đảo cả một đại đội như vậy thì trước khi vào được trong làng, lính của tôi phải phát giác ra còn nếu không thì chắc chắn đoàn quân Việt cộng này phải là đoàn quân ma.Tôi nghĩ vậy thôi chứ làm gì mà có ma quỉ hiện diện một lúc đông đảo và sinh hoạt như người vậy được. Nửa tiếng đồng hồ sau,trong khi đoàn quân Việt cộng còn đang ăn uống và trong khi tôi vẫn còn đang hoang mang thì người chỉ huy đại đội quân Việt cộng bỗng từ đâu đó chạy ra giữa đoàn quân rồi ông rút khẩu súng ngắn ra và bắn chỉ thiên ba phát. Tôi ngước mặt nhìn lên trời cao,tôi không thấy có bất cứ một vật gì hay bóng dáng một chiếc máy bay nào.Người chỉ huy đại đội quân cộng sản Bắc Việt sau khi bắn ba phát lên trời cao thì ông ta vừa chỉ tay lên đó vừa la hét đám lính chạy vào vị trí mà tôi không nghe rõ ông ta đã nói gì. Có một đám lính Việt cộng chạy lại gần chổ của tôi rồi đám lính Việt cộng này cùng một lượt đưa súng lên trời và cùng nhau bắn xối xả lên đó. Tôi ra dấu cho tám người lính ngay lập tức rời bỏ vị trí và chạy thật nhanh vào sâu trong khu rừng khoảng hai cây số thì dừng lại. * Mặt trời đã bắt đầu ló dạng từ phía chân trời.Một ngày mới lại đến với đoàn quân cảm tử của miền Nam.Trung sĩ Thành và tôi cùng ngồi bàn với nhau và cả hai người chúng tôi đều không hiểu và không tìm ra được nguyên nhân chuyện đã xảy ra hồi đêm. Trung sĩ Thành vẫn đang nhìn về hướng của cái làng và anh nói: - “Chẳng lẽ có một toán quân bạn nào cũng được thả xuống gần chỗ cái làng có đại đội Việt cộng đóng hồi đêm hay sao Trung úy?Thật là vô lý quá vì tôi và các bạn đây đều không thấy một dấu hiệu nào là có chiếc máy bay bay trên trời cả.” Tôi thật bối rối và không biết phải trả lời ra sao khi Trung sĩ Thành hỏi tôi bởi tôi đã được lệnh tuyệt đối không được dùng máy vô tuyến để liên lạc cho đến ngày chót,tôi nhìn Trung sĩ Thành lắc đầu rồi mở bản đồ ra xem;toán quân của tôi vẫn còn cách khá xa điểm hẹn.Tôi lấy cuốn sổ nhỏ ra ghi chép và sau khi hớp vài ngụm cà phê do một người lính đưa đến,tôi cùng tám người lính trẻ tiếp tục lên đường. Chúng tôi di chuyển cả ngày trong rừng rậm cho đến khi hoàng hôn xuống thì chúng tôi đến trước một cái ao nước khá lớn mà phía bên kia cái ao có một xóm nhà lá.Chúng tôi dừng chân và tôi cho hai người lính tiến gần vào xóm nhà quan sát. Nhìn đồng hồ tôi thấy đã gần bảy giờ tối rồi nên khi hai người lính sau khi quan sát đã trở lại báo cáo cho tôi biết có khoảng mười căn nhà lá trống không và không có bóng dáng một người nào sinh sống trong những căn nhà đó cả. Đây là những căn nhà lá dã chiến được cất lên vội vã như là những căn nhà để cho một vài toán quân Việt cộng nào đó đi qua đây làm chỗ qua đêm.Tôi cho toán lính đào hố trú ẩn qua đêm trên một mô đất cao cách không xa những căn nhà lá dã chiến đó. Hai giờ mười phút sáng tôi lại được một người lính đánh thức và chỉ tay về phía những căn nhà lá. Lại cũng có khoảng một đại đội quân cộng sản Bắc Việt đang nấu ăn và nói chuyện rất ồn ào. Vì trú ẩn trên một mô đất cao và nhờ có ánh trăng soi sáng nên tôi dễ dàng quan sát các hoạt động của đại đội quân Việt cộng. Có lẽ bọn Việt cộng nghĩ đây là vùng đất của mình nên quân lính Việt cộng trước khi ăn uống đã cho dựng một sân khấu lộ thiên ngay khoảnh đất trống như muốn để tổ chức văn nghệ. Khi đại đội quân Việt cộng vẫn đang còn ăn uống thì người chỉ huy từ trong một căn nhà lá chạy ra và nhìn lên trời cao rồi cũng bắn chỉ thiên ba phát. Lập tức cả đại đội lính Việt cộng chạy ùa vào những vị trí đã định và rồi cùng đưa súng lên trời và bắn. Tôi và tám người lính cùng nhìn lên trời cao nhưng,cũng giống như đêm hôm qua,tôi vẫn không thấy có một vật gì lạ để đoàn quân cộng sản Bắc Việt kia phải khai hỏa.Cả một đại đội với súng lớn,nhỏ đủ loại thi nhau hướng nòng súng lên trời bắn và âm thanh của tiếng nổ vang dội cả một khu rừng.Họ bắn liên tục như vậy khoảng mười phút thì người chỉ huy bỗng chỉ tay về phía mô đất cao nơi có chín người lính của miền Nam đang ẩn nấp rồi hô…xung phong! Tôi toát mồ hôi lạnh đầy lưng và lập tức ra dấu cho toán lính chia ra làm hai và chạy thật nhanh vào trong khu rừng rậm gần đó. Bốn người lính và tôi vừa chạy vừa nhìn lại,tuy không thấy bóng dáng một người lính Việt cộng nào đuổi theo,nhưng tôi và bốn người lính vẫn tiếp tục chạy thật xa,càng xa càng tốt. Khoảng gần sáng tôi và bốn người lính đến được một con suối cạn.Chúng tôi dừng chân lại nghỉ và bốn người lính đã thay phiên nhau canh gác và nấu cà phê.Tôi lo lắng không biết toán của Trung sĩ Thành có chạy thoát không và nếu không thì quả là một mất mát rất đau lòng.Tôi hoang mang và rồi nghi ngờ những gì mà tôi đã chứng kiến đêm qua nên tôi hỏi một người lính đang lui cui nấu nước pha cà phê gần bên. - “Hồi đêm khi đám lính Việt cộng bắn lên trời chú có nhìn theo không và có thấy gì không?” - “Thưa Trung úy,cho đến bây giờ em cũng không biết là tụi nó bắn vào cái gì ở trên trời. Lúc đầu em có lo sợ một chút,nhưng sau đó em nhìn thật kỹ thì không thấy có một cái gì ở trên trời cả ngoài...cái mặt trăng.Chẳng lẽ tụi nó muốn bắn hạ cái mặt trăng để bắt...chị Hằng hay thằng Cuội sao Trung úy?” - “Dạ,em cũng nhìn theo và cũng nghĩ như vậy đó Trung úy.” Một người lính đang đứng gần đó nói chen vào. Tôi lấy cuốn nhật ký hành quân ra ghi chép và tìm một chỗ để ngã lưng. Một người lính đến lay tôi dậy và báo cho tôi biết là có tiếng nói và tiếng chân người lội dưới suối theo hướng về phía chúng tôi. Bây giờ đang là mười ba giờ bốn mươi phút,bốn người lính vẫn hiên ngang như ngày đầu và đang nhìn tôi chờ đợi,tôi ra dấu sẵn sàng chiến đấu nếu bị địch phát giác.Tôi lấy trái lựu đạn ra cầm trong tay,tôi nghĩ với năm người chúng tôi thì khó mà chống trả lại với số đông địch quân đuợc,có lẽ hôm nay là ngày cuối cùng của năm người chúng tôi vì không còn kịp để tìm một lối thoát mà chỗ chúng tôi đang trú ẩn tuy rất kín đáo nhưng nếu chẳng may bị địch phát giác thì đành phải chịu hy sinh thôi.Nhìn gương mặt của bốn người lính đang nhìn đăm đăm về hướng phát ra tiếng động,tôi cảm thương cho tuổi trẻ của chúng tôi và cũng thương cho những người trẻ tuổi của miền Nam. Sinh ra nhằm lúc đất nước bị chiến tranh xâm lăng từ phương Bắc,tôi và tất cả những người thanh niên cùng lứa tuổi đã đáp lời kêu gọi của quê hương sông núi thân yêu mà lên đường nhập ngũ không một lời thở than.Tôi nhìn những người lính đang cùng tôi chờ đối diện với kẻ thù mà chỉ trong chốc lát nữa đây thôi thì chưa biết ai sẽ còn và ai sẽ mất hoặc sẽ cùng nhau mất hết.Tôi nhớ lại ngày tôi đang vui cùng gia đình đón xuân, đón một cái Tết mà tôi không ngờ cái Tết năm đó đã đem lại đau thương cho tôi,cho cả người dân miền Nam của tôi để rồi mãi mãi không một người miền Nam nào lại không nhớ đến cái Tết kinh hoàng đã do bọn Việt cộng gây ra. Bọn Việt cộng đã bội ước lệnh hưu chiến ngày đầu xuân để cùng một lúc tổng tấn công trên khắp bốn quân khu và thế là chẳng bao lâu sau tôi đã trở thành người lính chiến. Trong thời gian chín tháng miệt mài nơi quân trường,tôi cũng đã có được những ngày rong chơi đây đó ở thủ đô Sài Gòn trong những kỳ nghỉ phép cuối tuần và tôi chưa bao giờ có ý định lập gia đình chỉ vì tôi sợ sẽ để khổ cho người tôi yêu.Người tôi yêu và yêu tôi là người cũng có chút nhan sắc và rất thông minh. Người yêu của tôi hiện đang học năm cuối trường luật mà một nữ luật sư khả ái trong tương lai rất xứng đáng có một cuộc sống hạnh phúc và yên lành chứ không thể sống với một người lính trận rày đây mai đó như tôi được. Bạn bè và đồng đội trong cùng đơn vị đã cùng tôi xông pha trên nhiều mặt trận và đã có nhiều người đã vĩnh viễn ra đi để lại những nỗi buồn thương tiếc sâu đậm trong trái tim tôi. Nhiều lúc tôi cũng chợt nghĩ là không biết bao giờ sẽ đến lượt mình, bom đạn vô tình không biết phân biệt và nể nang một ai mà có lẽ người hứng chịu trước nhất phải là những người lính trẻ anh dũng đáng thương ngoài địa đầu chiến tuyến.Tôi nhớ lại những lần được nghỉ phép ở Sài Gòn khi đã ra trường và tôi đã nhiều lần muốn đến thăm người tôi yêu để bõ đi những tháng ngày mong nhớ nhưng rồi không hiểu sao bao lần rồi mà lần nào tôi cũng chỉ nhắm hướng khu Ngã Năm Chuồng Chó,nơi đóng quân của “chị em ta” mà tiến tới. Thấm thoát hơn hai năm trên khắp các chiến trường sau ngày tôi ra trường,bây giờ tôi được giao nhiệm vụ nhảy ra Bắc và đây là lần đầu tiên tôi nhận lãnh công tác này.Ngày tôi được thượng cấp tuyển chọn cho công tác này thì đồng thời tôi cũng được cho biết là bởi tôi đã chứng tỏ được sự can đảm trong chiến trận và có những quyết định những phản ứng nhanh và chính xác.Bốn người lính của tôi đây và ba người trong toán theo Trung sĩ Thành đều là những người còn trẻ mà tuổi đời của người cao nhất mới có hai mươi hai.Trung sĩ Thành đã có vợ và hai con,anh cũng đã gần ba mươi tuổi nhưng từ ngày nhập ngũ cho đến nay anh luôn luôn có mặt để tham dự những trận chiến lớn nơi vùng hoả tuyến.Nhìn những người lính đang lăm lăm trong tay quả lựu đạn mà trên gương mặt của những người lính trẻ đó không hề để lộ một nét gì là sợ hãi làm tôi muốn ôm những người lính đó vào vòng tay tôi chỉ vì tôi thấy họ là những người thân thiết gần gủi nhất,và như tôi,những người lính này cũng chưa được hưởng nhiều những thú vui trên đời nhưng đã nhận nhiều những gian nan trong cuộc sống của người lính chiến . Đang suy nghĩ tôi chợt nghe một giọng nói miền Nam với một câu nói thật đáng yêu đáng nghe nhất trong lúc này: - “Đ.M. chạy mệt quá! Không biết ông thầy của tụi mình và mấy đứa kia ra sao rồi. Đ.M. chán quá!” - “Suỵt, tao đây! Đ.M.tụi mày làm tao mừng quá!” Tôi nhào ra và ôm chầm lấy những người lính mới gặp lại với nhiều xúc động. Trong tận cùng nguy khốn,những người cùng chia xẻ khốn khổ và nguy nan chính là những người đáng yêu quý nhất và nhớ nhất trong cuộc đời! Trung sĩ Thành cho tôi biết là anh chạy chỉ được hơn ba trăm thước thì anh bị té bởi vướng vào một nhánh cây. Vì quá đau, anh la lớn lên một tiếng rồi nằm bất động. Những người lính thấy anh bị nạn họ đã quay lại định dìu anh đứng lên chạy tiếp nhưng cùng lúc đó thì anh và những người lính cũng không còn nghe một tiếng động nào chứng tỏ có quân Việt cộng xung phong đến. Thành và ba người lính nằm lại tại chỗ cho đến gần sáng thì đi tiếp và men theo dòng suối với hy vọng là sẽ gặp lại tôi. Trung sĩ Thành cũng có cùng một suy nghĩ và thắc mắc như tôi,chuyện xảy ra hai đêm liên tiếp và cùng một hiện tượng thật khó giải đoán. Tôi và Thành không hiểu được là cả hai toán quân cộng sản Bắc Việt kia từ đâu đến và tại sao lại ăn cơm quá muộn màng và giữa đêm khuya tại sao họ lại tổ chức văn nghệ chứng tỏ là họ không có vẻ gì là mệt mỏi cả. Trung sĩ Thành cho lính thay nhau canh gác và nghỉ ngơi để sáng ngày hôm sau sẽ tiếp tục lên đường. * Vì nhiều khu rừng có nhiều cây gai nên toán quân của tôi di chuyển bị chậm lại mà ba ngày nữa chúng tôi phải có mặt ở điểm hẹn để được bốc về nhưng khoảng cách vẫn còn khá xa. Chiều ngày hôm nay chúng tôi đến một địa điểm có nhiều mô đất cao xung quanh và một khoảng đất trống rất rộng lớn ở giữa. Tôi và tám người lính đóng trên hai mô đất có nhiều cây và tôi thật sự sung sướng khi nghĩ chỉ còn ba ngày nửa là tôi và tám người lính can trường này sẽ được bốc về thành phố và nhận mỗi người một tháng nghỉ phép. Lần này chắc chắn tôi sẽ ghé thăm người tôi yêu và tôi sẽ xin lỗi nàng là đã không có một cái thư nào cho nàng từ vài tháng qua. Nghĩ đến gương mặt xinh xinh và đôi mắt đẹp của người tôi yêu đang mở lớn nhìn tôi ngạc nhiên khi nghe tôi kể lại về chuyến đi ra Bắc và rồi nàng sẽ làm như giận hờn vì tôi đi mà không nói cho nàng biết, tôi thấy xao xuyến thật nhiều trong lòng. Một người lính đem đến cho tôi một ít cơm xấy và một ca cà phê. Sau khi ăn uống xong tôi phân chia mỗi nhóm hai người leo lên trú ẩn trên các cành cây cao và rậm rạp.Trung sĩ Thành sẽ ngồi cùng với tôi trên một thân cây. Trời càng về khuya càng có nhiều gió và lạnh. Tôi co ro trong chiếc áo len và tôi còn cẩn thận khoát thêm cái poncho bên ngoài cho ấm hơn. Tôi ngồi trên một cành cây lớn và cách xa tôi một thước là chổ ngồi của Trung sĩ Thành. Hai giờ mười phút - lại cũng đúng hai giờ mười phút - bất chợt tôi nghe nhiều tiếng động mạnh dưới gốc cây. Nhìn xuống khoảng đất trống trước mặt, tôi sửng sốt và kinh hoàng khi thấy có cả một đại đội quân cộng sản Bắc Việt đã đứng đó tự bao giờ và đang nghe người chỉ huy nói chuyện. Nhìn qua Trung sĩ Thành tôi thấy gương mặt của Thành cũng đang căng thẳng và hai con mắt của Thành đang cố mở ra thật lớn để nhìn cho rõ hơn. Tôi không thể hiểu được đoàn quân này từ đâu đến mà tôi không nghe được những bước chân của họ vì tôi chưa ngủ được vì mãi nghĩ về người tôi yêu. Tôi hy vọng là đoàn quân cộng sản Bắc Việt này sẽ chỉ loanh quanh dưới đó rồi di chuyển đi nơi khác trước khi mặt trời lên cao mà khi đó chắc chắn đoàn quân cộng sản này sẽ phát giác ra toán quân của tôi trên các cành cây. Không nghe được người chỉ huy đại đội Việt cộng nói gì, nhưng tôi thấy những cánh tay của cả một đại đội lính Việt cộng giơ lên cao và la lên một tiếng. Đoàn quân Việt cộng sau đó lại chia nhau ra nấu ăn và cũng nói chuyện với nhau rất ồn ào. Khoảng hơn một tiếng đồng hồ sau và trong khi đoàn quân còn đang ăn uống dở dang thì bất thần người chỉ huy đại đội quân cộng sản Bắc Việt chạy ra giữa đoàn quân và rút súng bắn chỉ thiên ba phát. Lập tức cả một đại đội quân cộng sản Bắc Việt cùng chạy vào vị trí và cùng đưa súng bắn lên trời. Lúc này thì tôi không còn làm gì được nữa. Tôi ngồi lặng cứng im lìm tại chỗ nhìn đám lính Việt Cộng đang thi nhau đưa họng súng bắn lên trời cao. Tôi ngước mắt nhìn lên trời,ngoài một bầu trời im lắng với những ngôi sao lấp lánh và cái mặt trăng tròn của ngày rằm ra, tôi không thấy có bất cứ một vật gì khác để đám lính cộng sản Bắc Việt kia phải bắn dữ dội như vậy. Tôi trùm cái poncho qua khỏi đầu để khỏi phải chứng kiến cảnh một tên lính Việt cộng nào đó nhắm bắn vào các ngọn cây nơi toán quân của tôi đang ẩn nấp. Khoảng mưòi phút sau tôi không còn nghe một tiếng súng nào nữa mà thay vào đó là những tiếng rên la của những người lính Việt cộng như đang bị thương. Tôi nhìn xuống dưới đất và một cảnh tượng quái lạ đến rợn người đang diễn ra dưới khoảng đất trống. Tất cả một đại đội lính cộng sản Bắc Việt cùng đang oằn oại trên vũng máu. Tất cả đều bị thương và có nhiều người đã chết! Tôi thấy người chỉ huy đại đội quân Việt cộng đang ôm cái bụng bị lòi ruột và gương mặt thì đầy máu ngồi dựa lưng vào khẩu súng cối cách chỗ tôi không bao xa. Ông ta đảo mắt nhìn quanh như tìm kiếm một sự giúp đỡ nhưng tất cả mọi người đều đã bị thương hoặc bị chết. Khoảng mười lăm phút sau nữa thì từ từ cái đầu của ông cũng gục xuống ngực và bất động. Tôi nhìn Trung sĩ Thành ra dấu là cứ ngồi yên tại chỗ. Tôi mệt mỏi vì căng thẳng quá độ. Tôi thật không còn hiểu một cái gì nữa cả và mặt của tôi cũng đang nhăn nhúm lại vì cảnh tượng mà tôi vừa chứng kiến. Tôi ngồi bất động như vậy chờ trời sáng. Buổi sáng sớm mai nơi rừng sâu và lạnh lẽo bỗng vang lên nhiều,rất nhiều tiếng hú của những con dã thú tạo nên một âm thanh thật rùng rợn. Tôi đã quá mệt mỏi vì căng thẳng nhưng tôi cũng quay đầu qua nhìn Trung sĩ Thành. Thành và tôi cùng một lúc nhìn xuống mặt đất lúc này đang từ từ sáng tỏ. Thành và tôi cùng nhìn nhau rồi lại nhìn xuống đất mà không sao mở miệng được vì dưới đất hoàn toàn không có một xác chết nào của đoàn quân Việt cộng cả. Tất cả đều giống như chiều hôm qua khi toán quân của tôi đến đây. Thành và tôi cùng tuột xuống khỏi thân cây và tôi ra dấu cho bảy người lính cùng xuống. Tất cả những người lính của tôi cũng đều đang trố mắt nhìn xung quanh rồi nhìn tôi như chờ đợi một lời giải thích. Tôi nhìn xung quanh khu đất trống rồi nhìn những người lính của tôi và hỏi: - “Tất cả anh em đều đã có chứng kiến cảnh tượng đêm hôm qua chứ?” - “Dạ,hai đứa em đều thấy và nhìn qua bên phía Trung úy để chờ lịnh.” - “Dạ,hai đứa em thấy cảnh tượng đêm hôm qua mà rùng mình hoài.” - “Dạ,hai…” - “Thôi, cảnh xảy ra đêm hôm qua tất cả chúng ta đều được chứng kiến bằng mắt chứ không phải trong mơ.Bây giờ anh em chia nhau ra nấu cái gì ăn tạm và pha cho tôi ly cafe.Tôi và Trung sĩ Thành đi quan sát một vòng xem sao.” Đi đến một chỗ vắng, tôi quay qua hỏi Thành: - “Trung sĩ nghĩ sao?” - “Thật khó giải thích quá Trung úy à, chẳng lẻ đoàn quân đó là…” - “Không lẻ mà cũng không chẳn gì cả mà đúng đó là một đoàn quân ma, đoàn quân âm hồn, các oan hồn vì một lẽ gì đó mà chưa siêu thoát được.Trong chúng ta không một ai là không chứng kiến cảnh tượng đó đã ba lần rồi mà theo tôi thì có lẽ đoàn quân cộng sản Bắc Việt đó muốn gởi cho chúng ta một tín hiệu một điều nhắn nhủ gì đó nên cả ba lần đều xảy ra cùng một hành động gần như giống nhau nhưng không xảy ra một điều gì làm hại đến chúng ta.” - “Nhưng ba đoàn quân đều khác nhau chứ không…” - “Đúng là ba đoàn quân đều khác nhau hết mà theo tôi thì đó là những oan hồn mà vì một lý do gì đó mà chưa siêu thoát được vì vậy mà họ luôn diễn ra gần như là mỗi đêm cho chúng ta chứng kiến mà không có một hành động nào làm tổn hại đến chúng ta. Tôi quyết định là đêm nay chúng ta vẫn sẽ ở lại đây và tối đến chúng ta cũng sẽ đóng quân trên các nhánh cây. Tôi sẽ hành động một mình nếu diễn tiến đúng như tôi dự đoán. Trung sĩ và các anh em cứ ngồi yên tại vị trí yểm trợ cho tôi khi cần thiết.Bây giờ thì Trung sĩ cũng đừng nói cho những người lính của mình biết những gì mà anh và tôi đã bàn kẻo họ hoang mang.” Tối hôm nay những người lính trẻ can trường và tôi đã ngồi vào đúng vị trí như đêm hôm qua. Trung sĩ Thành và tôi quyết tâm sẽ thức trắng trọn đêm nay và sẽ luôn luôn chú ý đến khoảng đất trống mà đoàn quân cộng sản đã đứng vào đêm hôm trước. Tôi phải và muốn biết đoàn quân đó từ đâu đi đến đây. Thượng cấp sẽ đưa tôi và tám người lính trong toán của tôi vào nhà thương điên Biên Hòa nếu trong báo cáo của tôi ghi là đoàn quân Việt cộng… từ trên trời rơi xuống hoặc từ dưới đất chui lên. * Cho đến lúc này khi tôi ngồi ghi lại mọi diễn biến để báo cáo với thượng cấp tôi vẫn không hiểu được là tại sao đêm hôm đó tôi lại không thấy đoàn quân cộng sản Bắc Việt hiện ra như thế nào, mặc dù đôi mắt tôi luôn luôn mở sáng để nhìn vào khoảnh đất trống,nơi đòan quân cộng sản Bắc Việt đã xuất hiện đêm hôm trước. Chỉ đến khi tôi nghe nhiều tiếng động dưới đất thì đoàn quân Việt cộng đã đang đứng đúng vào những vị trí như đêm hôm trước rồi. Trung sĩ Thành và bảy người lính trẻ không có một ai được chứng kiến cảnh đoàn quân cộng sản Bắc Việt đã đến như thế nào. Cũng như đêm hôm trước, đêm hôm nay mọi diễn biến với đoàn quân cộng sản Bắc Việt cũng lại được tái diễn y như cũ và hoàn toàn giống như đêm hôm trước. Đoàn quân cũng nấu ăn,rồi cũng người chỉ huy chạy ra giữa đoàn quân và bắn ba phát súng chỉ thiên,rồi mọi người ai nấy chạy vào đúng vị trí của mình và rồi cùng đưa súng lên trời bắn. Khi tôi thấy người chỉ huy đại đội quân cộng sản Bắc Việt đang ôm cái bụng đầy máu và đống ruột lòi ra ngoài ngồi dựa lưng vào khẩu súng cối, tôi liền tức tốc xuống khỏi cây và chạy thật lẹ đến đỡ đầu ông ta lên.Người đại đội trưởng cộng sản Bắc Việt quay đầu qua nhìn tôi với khuôn mặt đầy máu và nhe răng ra cười. Một nụ cười như mếu. - “Tôi là Trung úy thuộc quân đội của miền Nam.” - “Kính chào Trung úy. Tôi là Đại úy Đại đội trưởng nhưng xin Trung úy yên tâm bởi vì chúng tôi không thể nào làm hại toán quân của Trung úy được, xin Trung úy hãy cứu chúng tôi và cứu lấy dân tộc Việt Nam mình.”. - “Chúng tôi có thể làm gì được cho Đại úy ngay bây giờ không?” - “Không ! Không có cách gì làm ngay bây giờ cả ngoại trừ… Trung úy hãy nghe cho kỹ đây. Chúng tôi bị trừng phạt bởi vì vị lãnh tụ tối cao và già nua của chúng tôi đã phạm thượng với Thượng đế. Ông ấy tin có Thượng đế nhưng ông ấy cố tình chối bỏ và lại còn bắt buộc tất cả chúng tôi, bắt buộc tất cả mọi người dân miền Bắc phải tin là không có Thượng đế. Nhóm người của ông ấy đã ra lệnh cho chúng tôi phải phá nát tất cả những nơi thờ phượng và đàn áp bắt bớ tra tấn tất cả những vị tu sĩ của tất cả mọi tôn giáo nên chúng tôi đang bị trừng phạt. Có tất cả ba đại đội của chúng tôi bị tử thương do bom từ máy bay B52 của Mỹ nhưng tất cả chúng tôi đều không thể siêu thoát được cũng bởi chúng tôi đã nghe theo lời của ông ấy mà gây ra bao tội ác. Chúng tôi bị một lời nguyền là mỗi đêm chúng tôi phải sống lại để tái diễn lại những cảnh chết chóc đau đớn vì bom đạn như Trung úy đã thấy. Chúng tôi là những người lính luôn luôn bị thiếu thốn đủ mọi thứ trong lúc còn trên dương thế và nhất là thiếu ăn. Trung úy đã thấy là hằng đêm chúng tôi luôn tái diễn lại cảnh nấu ăn nhưng không bao giờ được ăn no vì nửa chừng thì chúng tôi phải bị bom đạn giết chết. Đau đớn lắm Trung úy ạ! Mỗi đêm chúng tôi phải bị sống lại để tái diễn lại cảnh đau đớn một lần cho đến khi nào... Trung úy sẽ cùng với lính của Trung úy trở về miền Nam an toàn và không một ai bị thương tích gì cả nhưng sau đó nếu Trung úy và quân đội miền Nam không mau chóng phá nát cho được cái nhà mồ, cái lăng có chứa xác của vị lãnh tụ độc tài và dâm ác, tuy đó chỉ còn là cái xác làm bằng sáp dùng để tuyên truyền thì miền Nam cũng sẽ cùng với miền Bắc bị nỗi oan nghiệt đầy đọa triền miên trong đau khổ. Trung úy nhớ là khi nào cái lăng của ông ta bị tiêu hủy đi thì chúng tôi mới được siêu thoát và dân tộc Việt Nam mình mới thoát khỏi sự đọa đầy. Chính ông ta là thủ phạm! Chính ông ta là nguyên nhân gây ra tất cả mọi đau khổ cho dân tộc mình!Bây giờ thì tôi, chúng tôi lại sắp phải chết rồi và đêm mai chúng tôi sẽ sống lại để tái diễn lại cảnh đau đớn mà Trung úy đã ba lần được chứng kiến.Xin Trung úy đừng quên những gì tôi đã nói.Hãy hành động dù thời gian có là bao lâu để thực hiện thì cũng phải làm.Phải làm bằng mọi cách sao cho cái lăng khốn kiếp quỷ quái kia phải bị phá hủy đi thì khi đó quê hương mình mới hết bị đọa đầy,người người mới hết bị phân chia ly tán và mới hết hẳn sự hận thù. Vĩnh biệt Trung úy!”. Topa http://www.rfi.fr/player/telecharger.aspx?ancien=False&fichier=http://telechargement.rfi.fr.edgesuite Báo trong nước tiếp tục phổ biến tin tức về công nhân Trung Cộng tại Tân Rai Apr 16, 2009
Tiếp tục theo dõi bài báo trên trang điện tử Việt Nam Net trực thuộc bộ Thông tin và Truyền thông của Cộng sản Việt Nam, là nơi duy nhất đăng tải bài viết về vụ công nhân Trung cộng tại Việt Nam, trong lúc cả nước đang sôi sục phản đối việc Hà Nội cho phép công ty Trung cộng được vào vùng Tây nguyên khai thác bauxite.
Bài báo hôm nay mới cho thấy mục đích của bộ Thông tin Văn hóa nhà nước là để giải thích một số tin đồn đã rộ lên chung quanh vụ công nhân Trung cộng tại Đắc Nông. Bài báo thú nhận rằng từ tháng 11 năm ngoái, những đợt công nhân Trung Cộng đầu tiên đã có mặt tại công trường bô-xít Tân Rai huyện Bảo Lâm, Lâm Đồng, vậy mà mọi việc bị dấu nhẹm cho đến tháng 2 năm nay mới có tin lọt ra ngoài.
Bài báo cho biết bây giờ mặt bằng cho dự án đã được san phẳng với diện tích hơn 50 mẫu với hàng ngàn người hối hả thi công trên nền đất đỏ lầy lội. Theo quản đốc của đơn vị nhà thầu Chalico Trung Cộng thì công nhân nước này hiện có mặt tại đây khoảng 700 người. Họ đến từ nhiều địa phương khác nhau từ Trung Hoa đại lục như Sơn Đông, Sơn Tây, Quảng Đông. Nhân vật này thú nhận trước đây số lượng công nhân Trung Cộng có thể lên đến 2000 người. Trong suốt nhiều tháng qua, cuộc sống người dân địa phương của thị trấn Lộc Thắng huyện Bảo Lâm, Lâm Đồng đã đảo lộn vì sự có mặt của những công nhân này. Từ 7 giờ sáng, con đường từ thị trấn Lộc Thắng vào khu mỏ bắt đầu nhộn nhịp. Các xe vật liệu xây dựng đổ về công trường. Những nhóm công nhân áo xanh, dép vàng người Trung Cộng đi bộ từ các nhà trọ xung quanh bắt đầu vào ngày làm việc mới. Công việc của họ cũng chỉ là đào đất, xúc ủi.
Bài báo viết rằng công trình nhà máy bô-xít Tân Rai vừa được rào lưới kỹ lưỡng. Nhà thầu đã thuê bảo vệ canh gác khách ra vào, và chuyện tăng cường an ninh ở khu vực quanh công trường là một trong yếu tố gây ồn ào dư luận nơi đây.
Bài báo tiết lộ có lúc một trong những nhà thầu phụ của Trung Cộng chậm trả lương, hàng chục công nhân vây quanh nhà ở của nhà thầu chính phản ứng. Sự việc kéo dài làm đình trệ công việc hơn hai ngày nhưng giờ thì tình hình đã tạm ổn. Bài báo cho biết sau vài tháng, những công nhân Trung Cộng sống xa nhà bắt đầu làm quen địa phương, bắt đầu nhậu nhẹt say sưa và vào làng tìm gái. Điều này lại làm cho người dân Lộc Thắng lại rộ lên dư luận phản đối việc công nhân Trung Cộng quan hệ với gái địa phương và làm cho hàng chục cô gái Việt có bầu. Nhà nước Cộng sản Việt Nam đã mau chóng bác bỏ tin này và cho rằng đó chỉ là lời đồn thổi vô căn cứ.
Bài báo cũng tiết lộ có một điều mà tất cả công nhân Trung Cộng được hỏi đều từ chối trả lời, đó là mức thu nhập. Tuy nhiên theo các cư dân địa phương cho biết mức thu nhập của công nhân Trung Cộng có thể, cao hơn nhiều so với mức lương làm tường rào của thợ xây dựng Việt Nam. Quản đốc công trường cho hay việc đưa người Trung Cộng sang Việt Nam là bởi người Việt Nam chưa có tay nghề và tác phong công nghiệp. Một sự kiện khá đau lòng là những khu nhà trọ trong vùng nay đang muốn đuổi người địa phương đi để lấy lại nhà để cho người Trung Cộng thuê, vì nhiều chủ cho thuê nhà và mặt bằng ở Lộc Thắng bây giờ thấy rằng cho người Trung Cộng thuê nhà có lợi hơn, một căn nhà trệt nếu cho các kỹ sư và chuyên gia nước bạn thuê sẽ thu được ít nhất 2 triệu đồng một tháng.
Nguyên căn nhà ba tầng lầu xây mới, đủ tiện nghi có thể cho thuê với giá 10 triệu đồng một tháng hoặc hơn. Khi số lán trại tập thể trên công trường bô-xít Tân Rai không đủ sức chứa cho công nhân Trung Cộng hiện tại, các nhà trọ bình dân nằm khuất sau các con lộ chính cũng nhiệt tình đón khách. Cứ một phòng trọ thuê dài hạn là 500 ngàn đồng một tháng, công nhân Trung Cộng muốn ở chung mấy người thì ở. Cách khu mỏ bauxite chừng 1 cây số và đã cho người Trung Cộng thuê hai năm mở nhà hàng chuyên món Hoa, họ thuê đầu bếp từ Chợ Lớn về nấu ăn, cả nhân viên cũng người gốc Hoa, hóa đơn tính tiền cũng không có tiếng Việt và đây là nhà hàng phục vụ khách Hoa thứ hai ở Lộc Thắng sau Trung Hoa Quán đã khai trương trước Tết vừa qua. Về những tin đồn cho rằng có nhiều công nhân Trung Cộng đã vào Tân Rai, trong đó có lao động phổ thông và nhập cảnh bằng đường visa du lịch, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Than và khoáng sản Việt Nam đã thú nhận việc này và cho biết đã xảy ra từ lâu, phía Việt Nam đã yêu cầu nhà thầu xử những nhân viên này và phải tôn trọng luật pháp của Việt Nam, nhưng nguồn tin riêng cho biết bên phía nhà thầu vẫn bất chấp và vẫn lưu giữ những người này mà phía Việt Nam không làm được gì cả.
Bài báo cũng cho biết ngoài việc những người có nhà cho thuê, còn có những người cho thuê xe. Công nhân Trung cộng làm việc xong thuê xe đi Bảo Lộc, Đà Lạt, bài báo viết không thấy hiện tượng công nhân Trung Cộng đi chơi cùng phụ nữ Lộc Thắng. Nhưng ở Bảo Lộc, hình ảnh các cô gái Việt cặp tay các công nhân Trung cộng đi dạo quanh bờ hồ thị xã chiều chiều đã không còn hiếm thấy. Các lớp dạy tiếng phổ thông Trung Cộng ở thị xã Bảo Lộc cũng đông dần học viên. Một người Hoa sinh trưởng ở Việt Nam nay định cư ở Lộc Thắng nói không biết tiếng Hoa thì khó làm ăn với người Trung Cộng lắm, nên nhiều người nay đổ xô đi học tiếng Hoa để làm ăn buôn bán với họ. Cách đó 5 cây số, bài báo kể về những quán cà phê bình dân nơi các công nhân.
Trung Cộng thường ghé đến, hài kịch thường xuyên diễn ra là: Một nhóm vào quán gọi mỗi người một ly cà phê đen, sau đó xin thêm sữa, uống thêm rất nhiều nước trà, và cuối cùng trả tiền với giá những ly cà phê đen. Các công nhân Trung Cộng bần tiện thế nào thì các chuyên gia của họ cũng chi tiêu kỹ lưỡng như thế. Ngay cả thuốc lá họ cũng hút thuốc lá Trung Cộng sản xuất. Ngoài những nhu yếu phẩm, mặt hàng bán được nhiều hơn hẳn từ ngày có người Trung Cộng ở Lộc Thắng chính là card điện thoại di động Viettel loại rẻ nhất. Chính bài báo cũng thú nhận rằng trừ một số ít người lợi dụng cơ hội và có điều kiện, người dân Lộc Thắng không thấy vui vẻ gì với tương lai mà dự án bauxite sẽ mang lại cho cuộc sống của họ. Chủ khách sạn Bảo An là một trong hai khách sạn cho công nhân Trung Cộng thuê dài hạn cho biết nhiều người vừa trả phòng để về nước, nghe nói họ thầu xây dựng cả hai dự án Tân Rai này và trên Đăk Nông. Dự án Đăk Nông đình chỉ rồi nên họ tạm thời về nước.
Trong những ngày qua nhiều người đã lên tiếng đả kích việc Hà Nội cho phép Trung cộng đưa người vào Việt Nam khai thác mỏ bauxite. Trong cuộc hội thảo vào cuối tháng 3, chủ tịch Tổng Hội xây dựng Việt Nam khẳng định các nhà thầu Việt Nam đang rất lo vì các nhà thầu Trung Cộng đang thắng thầu rất nhiều công trình trọng điểm về điện, ximăng, hóa chất. Đáng quan tâm là các nhà thầu Trung Cộng thường đem theo hàng ngàn công nhân và đem cả máy móc của họ sang, trong khi những máy móc đó Việt Nam hoàn toàn có thể sản xuất được. Nhiều người còn cho rằng công nhân Trung cộng có mặt tại Tây nguyên như một lực lượng gián điệp và bộ đội sẵn sàng cho một cuộc xâm chiếm, nếu cần thì họ sẽ là lực lượng thứ ba và sẽ giúp cho Trung cộng biến Việt Nam thành một Tây Tạng mới bằng cách thôn tính và sát nhập Việt Nam trong âm mưu bành trướng của họ.
Giảm chợ tăng siêu thị
Đỗ Hiếu, phóng viên đài RFA
2009-04-15
Chính quyền thành phố Hồ Chí Minh quyết định giảm hàng loạt chợ, tăng nhiều siêu thị cũng như trung tâm thương mại sầm uất.
Một đô thị phồn thịnh tại Châu Á
Theo tin này, từ 82 siêu thị trong địa bàn thành phố sẽ tăng lên 177 siêu thị, số trung tâm thương mại từ 22 sẽ tăng lên 163 từ nay đến năm
Gía cả ngoài chợ có khi cao hơn so với trong siêu thị, nhưng ngày nay, người ta thích mua sắm trong siêu thị hơn vì giá cả được ổn định. AFP photo
2015.
Hội đồng nhân dân thành phố khuyến khích doanh giới, các ngành kinh tế, sản xuất tham gia đầu tư phát triển hệ thống siêu thị hiện đại, tân tiến mang lại tiện ích cho người tiêu dùng, tân trang hình ảnh của một đô thị phồn thịnh tại Châu Á, thường được gọi là Saigon.
Theo tin này, từ 82 siêu thị trong địa bàn thành phố sẽ tăng lên 177 siêu thị, số trung tâm thương mại từ 22 sẽ tăng lên 163 từ nay đến năm 2015.
Dân chúng có khả năng tài chánh cũng tán thành vì cho rằng hàng hóa trong siêu thị không nói thách, thực phẩm, rau quả tươi, bảo đảm vệ sinh an tòan thực phẩm.
Mặt khác, trung tâm thương mại là nơi có hàng hiệu cao cấp đáp ứng yêu cầu của khách hàng trong nước và du khách đến từ khắp 5 Châu.
Một bà nội trợ ở Bình Tân là bà Hạnh tán thành chủ trương đó và đưa ra sự so sánh những điều mà bà đánh giá là nên đi vào siêu thị hơn là ra chợ:
“Gía cả ngoài chợ có khi cao hơn so với trong siêu thị, nhưng ngày nay, người ta thích mua sắm trong siêu thị hơn vì giá cả được ổn định, mà rau cải thực phẩm lại tươi, giá rẻ so với bên ngoài. Siêu thị gần sát với các chợ, ngay cả tiền gởi xe đạp cũng rẻ hơn phân nửa.”
“Gía cả ngoài chợ có khi cao hơn so với trong siêu thị, nhưng ngày nay, người ta thích mua sắm trong siêu thị hơn vì giá cả được ổn định, mà rau cải thực phẩm lại tươi, giá rẻ so với bên ngoài. Siêu thị gần sát với các chợ, ngay cả tiền gởi xe đạp cũng rẻ hơn phân nửa.”
Bà Hạnh, nội trợ ở Bình Tân
Rời chợ ra ngoại thành
Bà Xuân, một nội trợ khác ở Bàn Cờ nói chủ trương xây dựng siêu thị, trung tâm thương mại là điều cần thiết, nhưng sẽ gây ít nhiều khó khăn cho những người không đủ khả năng để vào đó:
“Dựng nhiều siêu thị, trung tâm thương mại là tin mừng, vì làm tăng vẻ đẹp của thành phố , đi mua sắm ở những nơi đẹp đẻ, sạch sẽ thì ai cũng thích, nhất là giới trung lưu. Tuy nhiên nếu nghỉ đến giới lao động thì họ vẫn cần các chợ nhỏ hơn, mỗi khi cần mua chút ít hàng, gía rẻ lại tiện cho người mua, ít tốn giờ. Không nên dẹp bớt chợ mà cần duy trì để phục vụ phần đông người lao động.”
Tuy nhiên nếu nghỉ đến giới lao động thì họ vẫn cần các chợ nhỏ hơn, mỗi khi cần mua chút ít hàng, gía rẻ lại tiện cho người mua, ít tốn giờ. Không nên dẹp bớt chợ mà cần duy trì để phục vụ phần đông người lao động.
Bà Xuân, nội trợ ở Bàn Cờ
Trong khi đó, bà Điệp, nội trợ ở Gia Định cho là quyết định xây dựng siêu thị, trung tâm thương mại có thành công và được người dân ủng hộ hay không, thì phải chờ thời gian mới rõ được:
“Đây là một chủ trương của nhà nước, tuy nhiên thực tế có thể khác vì phần lớn dân chúng vẫn hàng ngày đi chợ mua sắm hàng hóa. Siêu thị sang, sạch sẽ hơn, nhưng gía cả không hợp túi tiền của người bình dân. Đây là những người nhập cư vào thành phố và lao động có thu nhập thấp. Thành phần này quen đi chợ vì hàng hóa rẻ và tiện cho việc mua sắm những món thiết thực cho đời sống.”
Sở công thương thành phố Hồ Chí Minh giải thích trên mặt báo là theo quy hoạch phát triển hệ thống chợ, từ nay đến năm 2015, các ban ngành, quản lý thị trường sẽ tiến hành giảm hàng loạt chợ ở khu vực nội thành và sẽ tăng số lượng chợ ở ngoại thành Saigon.
Văn bút Quốc tế đánh động dư luận về trường hợp các ngòi bút bị cầm tù ở VN
Trà Mi, phóng viên RFA
2009-04-15
Ủy ban bảo vệ các ngòi bút bị cầm tù thuộc Tổ chức Văn bút Quốc tế vừa lên tiếng đánh động dư luận khắp nơi về tình trạng tù tội bất công của các ngòi bút đòi hỏi nhân quyền tại Việt Nam.
RFA PHOTO
Thông cáo báo chí của Ủy ban bảo vệ các ngòi bút bị cầm tù về tình trạng tù tội của các ngòi bút tại Việt Nam.
< meta name=ProgId content=Word.Document>< meta name=Generator content="Microsoft Word 12">< meta name=Originator content="Microsoft Word 12">
Tổ chức quốc tế này cũng đồng thời kêu gọi mọi người có hành động cụ thể kêu gọi Hà Nội tuân thủ những điều cam kết với thế giới về tôn trọng quyền tự do bày tỏ quan điểm của công dân.
Bị giam cầm chỉ vì bày tỏ quan điểm
Trong cuộc trao đổi với Trà Mi, bà Sara Whyatt, Giám đốc chương trình của Ủy ban bảo vệ các ngòi bút bị cầm tù thuộc Tổ chức Văn bút Quốc tế, nhấn mạnh quan điểm của tổ chức này:
Bà Sara Whyatt: Tổ chức Văn bút Quốc tế chúng tôi đã và đang kêu gọi chính phủ Việt Nam phóng thích khoảng 7 ngòi bút và nhà báo bị bắt bớ cuối năm ngoái trong một chiến dịch đàn áp quy mô trấn áp những tiếng nói đối lập, những người kêu gọi nhân quyền.
Chúng tôi hết sức quan tâm vì tất cả 7 người này đều vẫn đang bị giam giữ, một hành động vi phạm quyền công dân tự do bày tỏ quan điểm. Chúng tôi vừa nhận được báo cáo rằng vài ngừơi trong số này đang trong tình trạng sức khoẻ suy kém và người thân của họ không được phép tiếp xúc, thăm nuôi.
Chúng tôi kêu gọi chính phủ Việt Nam phóng thích các ngòi bút đang bị giam cầm, cho phép họ được tiếp cận các điều kiện chăm sóc sức khoẻ cần thiết, được tiếp xúc với người thân và luật sư trong thời gian bị giam giữ.
Bà Sasa Whyatt, < meta name=ProgId content=Word.Document>< meta name=Generator content="Microsoft Word 12">< meta name=Originator content="Microsoft Word 12">WiPC
Chúng tôi thật sự rất quan ngại trứơc tình trạng này nên đã công bố văn bản đánh động sự quan tâm của công luận khắp nơi lần đầu tiên vào tháng 9 năm ngoái và tái cập nhật thêm tuần trứơc khi nghe tin các thông tin về tình trạng của họ hiện giờ.
Chúng tôi kêu gọi các thành viên của tổ chức hiện đang hiện diện tại hơn 100 quốc gia trên thế giới bày tỏ sự phản đối với chính phủ Việt Nam, yêu cầu phóng thích các ngòi bút đang bị giam cầm, cho phép họ được tiếp cận các điều kiện chăm sóc sức khoẻ cần thiết, được tiếp xúc với người thân và luật sư trong thời gian bị giam giữ.
Chúng tôi cũng kêu gọi nhà cầm quyền Việt Nam xem lại các quy định về bắt giam những người bất đồng chính kiến, những nạn nhân bị đẩy vào vòng lao lý chỉ vì bày tỏ quan điểm của họ.
Như cô biết đấy, Hà Nội từ lâu đã tham gia ký kết vào Công ứơc quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, trong đó có điều 19 bảo đảm và bảo vệ quyền tự do bày tỏ quan điểm của công dân. Vì vậy, những sự bắt bớ này hoàn toàn vi phạm và đi ngược lại những gì mà chính nhà nước Việt Nam đã lên tiếng cam kết với cộng đồng quốc tế.
Trà Mi: Những lời kêu gọi Việt Nam tôn trọng nhân quyền nên được gửi đến đâu, thưa bà?
Bà Sara Whyatt: Các lời kêu gọi và phản kháng đang được gửi đến Bộ Ngoại Giao Việt Nam ở Hà Nội, Thủ tướng Việt Nam, và quan trọng là các sứ quán Việt Nam ở các nứơc. Chúng tôi cũng đang viết thư gửi đến một số các cơ sở ngoại giao.
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng nêu vấn đề trên các phương tiện truyền thông đại chúng để nhắc nhở mọi ngừơi rằng tình trạng vi phạm nhân quyền tại Việt Nam đáng quan ngại, để mọi ngừơi nhớ rằng những ngừơi cầm bút đựơc quyền phản ánh hiện thực và bày tỏ quan điểm ôn hoà mà không cần phải sợ bị tấn công hay đàn áp.
Chúng tôi lên tiếng để nhắc nhớ mọi ngừơi rằng những ngừơi cầm bút đựơc quyền phản ánh hiện thực và bày tỏ quan điểm ôn hoà mà không cần phải sợ bị tấn công hay đàn áp.
Bà Sasa Whyatt, < meta name=ProgId content=Word.Document>< meta name=Generator content="Microsoft Word 12">< meta name=Originator content="Microsoft Word 12">WiPC
Vai trò của những ngừơi cầm bút chúng tôi là phải lên tiếng và bày tỏ sự quan tâm bằng tất cả những phương thức có thể.
Trà Mi:Những thông tin mà Tổ chức Văn bút có được và cáo buộc Hà Nội dựa trên những cơ sở nào thưa bà?
Bà Sara Whyatt: Chúng tôi nhận đựơc báo cáo từ nhiều nguồn khác nhau, từ các tổ chức NGO chuyên bảo vệ nhân quyền trên thế giới, trực tiếp từ các cá nhân, đoàn thể trong và ngoài Việt Nam. Tổ chức Văn bút chúng tôi luôn dựa vào nhiều nguồn thông tin và báo cáo khác nhau trứơc khi công bố văn bản đánh động dư luận.
Chúng tôi rất thất vọng khi thấy rằng tại thời điểm 2009 này đây vẫn còn cái kiểu bắt bớ, tù đày những tiếng nói bất đồng chỉ vì họ bày tỏ thái độ phản đối một cách ôn hoà để kêu gọi thay đổi, cải thiện, điều này hoàn toàn vi phạm những tiêu chuẩn nhân quyền căn bản được cả thế giới công nhận mà Việt Nam cũng đã ký tên đồng ý.
Hành động vì nạn nhân của độc tài
Trà Mi:Nhiều người nhận xét rằng chính phủ Việt Nam chưa bao giờ có phản hồi thích ứng trước những lời kêu gọi và những sự quan tâm về nhân quyền. Vậy theo bà, cộng đồng quốc tế cần phải làm gì hơn nữa để phát huy tác dụng của những lời kêu gọi này?
Bà Sara Whyatt: Tôi nghĩ chúng ta chỉ cần tiếp tục gióng tiếng nói mạnh mẽ và liên tục. Theo tôi, nhà cầm quyền Việt Nam không có hồi đáp trực tiếp không phải là chỉ dấu rằng họ không phản hồi. Tôi nghĩ chúng ta nên liên tục nhắc nhở Hà Nội về nghĩa vụ và trách nhiệm của họ đối với những gì cam kết trong bản Công ước quốc tế.
Hơn nữa, chúng ta còn phải có trách nhiệm bảo vệ những người dân thấp cổ bé miệng. Những người cầm viết trên khắp thế giới rất quan tâm đến những ngòi bút bị nạn. Toàn cầu có khoảng 800 nhà báo và ngòi bút bị giam cầm, bị tấn công, và thậm chí là bị sát hại. Cho nên Văn bút Quốc tế kêu gọi các đồng nghiệp của mình lên tiếng phản đối.
Chúng ta cần tiếp tục gióng tiếng nói mạnh mẽ và liên tục. Tôi nghĩ chúng ta nên liên tục nhắc nhở Hà Nội về nghĩa vụ và trách nhiệm của họ đối với những gì cam kết trong bản Công ước quốc tế.
Bà Sasa Whyatt, Chúng tôi làm điều này đối với trường hợp của Việt Nam, Trung Quốc, Nga, hay ngay tại Châu Âu khi chúng tôi phát hiện có những cây viết bày tỏ tư tưởng mà bị kiểm duyệt và sách nhiễu. Trách nhiệm của chúng tôi là phải ủng hộ và bảo vệ những ngừơi cầm bút thực hành nghiệp vụ của họ.
Trà Mi:Bên cạnh việc lên tiếng thể hiện sự quan tâm, Văn bút Quốc tế có đề ra những hành động thiết thực nào nữa để bảo vệ những nạn nhân này không?
Bà Sara Whyatt: Ngoài việc lên tiếng bày tỏ quan ngại, chúng tôi còn vận động sự quan tâm và nhắc nhở các chính phủ rằng các vi phạm nhân quyền đang bị coi thường tại các quốc gia nhưở Việt Nam, và yêu cầu họ đặt điều kiện cải thiện nhân quyền trong các cuộc đàm phán ngoại giao với Hà Nội.
Chúng ta không thể xem nhẹ tầm quan trọng của việc nêu vấn đề lên, nhắc nhớ mọi người đừng để những sự vi phạm này “lọt sổ”.
Trà Mi:Xin chân thành cảm ơn bà Sara Whyatt đã dành thời gian cho cuộc phỏng vấn này.
---------------------------------- Bà Sara Whyatt hiện là Giám đốc chương trình của Ủy ban bảo vệ các ngòi bút bị cầm tù thuộc Tổ chức Văn bút Quốc tế.Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 73 (15-4-2009)
1- Hôm 17-03-2009 tại Hà Nội, lần đầu tiên giới học giả tại Việt Nam (khoảng 100 người) được cho phép hội thảo chính thức về tranh chấp chủ quyền tại biển Đông, một chủ đề lâu nay vẫn bị đảng coi là “nhạy cảm”.
Cuộc hội thảo do Học viện Ngoại giao - Chương trình nghiên cứu Biển đông của Việt cộng tổ chức và mang tên "Tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông: lịch sử, địa chính trị và luật pháp quốc tế". 14 diễn giả, chỉ trong một ngày, đã đọc tham luận chia làm ba nhóm chủ đề: Lịch sử các quá trình tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng tại biển Đông; Luật pháp quốc tế và tranh chấp chủ quyền tại biển Đông; Biển Đông và quan hệ quốc tế tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Đến ngày 30-3, cũng lại lần đầu tiên, Ban Tuyên giáo Trung ương đảng CSVN đã chính thức phát động tại Hà Nội cuộc thi “Tìm hiểu biển, đảo Việt Nam”. Phối hợp tổ chức cuộc thi có báo Điện tử Đảng, các Bộ Tài nguyên và Môi trường, Văn hóa Thể thao và Du lịch, Ngoại giao, Bộ Tư lệnh Biên phòng, Tư lệnh Hải quân, Tập đoàn Dầu khí quốc gia, Đài Tiếng nói VN, Đài Truyền hình VN và một số tờ báo… Trưởng ban tổ chức, ông Đào Duy Quát, Tổng biên tập Báo Điện tử Đảng cho biết: “Cuộc thi nhằm đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền biển, đảo, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động của các cấp, các ngành và các tầng lớp nhân dân về vị trí chiến lược của biển, đảo nước ta; thực hiện mục tiêu đến năm 2020 đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo của Tổ quốc”. Được tham dự cuộc thi là người Việt Nam trong lẫn ngoài nước và người ngoại quốc, có trao giải thưởng hàng tuần cho thí sinh trắc nghiệm và cuối cuộc thi cho thí sinh viết bài (tháng 8-2009).
Chưa hết sửng sốt ngỡ ngàng vì những động thái này của nhà cầm quyền, người dân Việt Nam lại chứng kiến thêm một sáng kiến nữa. Đó là vào ngày 09-04, tại Hà Nội, một cuộc Hội thảo khoa học về các dự án bauxite Tây Nguyên đã được Phó Thủ tướng CSVN Hoàng Trung Hải chủ trì. Cuộc hội thảo có 50 tham dự viên gồm các nhà khoa học và nhà văn hóa cả nước. Với 11 báo cáo khoa học và 23 ý kiến thảo luận cũng nội trong một ngày, các đại biểu đã cùng mổ xẻ hiệu quả kinh tế, tác động môi trường, văn hóa, xã hội của các dự án bauxite Tây Nguyên.
Các tin tức nêu trên làm một số kẻ nức lòng. Có người không ngần ngại cho rằng Hà Nội đã bật đèn xanh cho một phong trào dân tộc thượng tôn, toàn dân cứu nước. Tại hải ngoại lại có vài cá nhân và tổ chức đã công khai hoặc kín đáo kêu gọi mọi người Việt hãy kết hợp với đảng CS để quyết liệt chống Tàu. Vài người còn nêu bật phương châm: “Cứu nước trước! Chống Cộng sau”!?!
2- Phân tích chi tiết và nhận định toàn cục, người ta thấy rằng cuộc hội thảo hôm 17-03 gần như chỉ có sự quy tụ của giới học thuật, chuyên gia và một số nhà báo tại Việt Nam, chẳng có quan chức chính quyền. Đáng để ý hơn nữa là các học giả Việt Nam ở nước ngoài có nghiên cứu vấn đề lại không được mời tham dự (nếu có về thì lại bị trục xuất ngay như giáo sư Nguyễn Hưng Quốc hôm 05-04 vừa qua chăng?). Trong cuộc hội thảo, người ta còn phanh phui ra nhiều chuyện đáng lo, nếu không muốn nói là động trời. Một diễn giả đã cho thấy Trung Quốc “rất chú trọng đến việc chuẩn bị dư luận trong vấn đề biển Đông… không từ bỏ một thủ đoạn nào, diễn đàn nào để khẳng định chủ quyền của họ”. Đang khi dư luận Việt Nam chưa được tiếp cận thông tin về các sự thực lịch sử, các cơ sở pháp lý của Việt Nam trong tranh chấp biển Đông. Ai từng muốn đánh động về điều này qua các cuộc biểu tình, các bài phát biểu thì đã bị gọi về đồn hay tống vào ngục. Có diễn giả cảm thán: “Từ 1909 đến nay, đúng một thế kỷ tranh chấp chủ quyền về biển Đông, nhưng Việt Nam vẫn chưa biết sử dụng kết quả nghiên cứu, chưa biết tập hợp lực lượng… Nhiều nhà nghiên cứu (trong nước) cứ thấy mình như đang làm một việc bất hợp pháp, cần phải giấu kỹ”. Trong khi đó, Trung Quốc đào tạo học giả, công bố tài liệu và rao giảng vấn đề khắp thế giới. Rồi người ta chẳng thấy sau cuộc hội thảo hy hữu nói trên, ban bệ nào đã được thành lập, chương trình nào đã được tung ra nhằm cụ thể hóa những kiến nghị.
Cuộc thi “Tìm hiểu biển, đảo Việt Nam”, phát động do Ban Tuyên giáo Trung ương, tên cảnh sát tư tưởng, tên lãnh chúa văn hóa, tên công an bịt miệng cực kỳ tàn bạo (x. Hồi ký một thằng hèn của nhạc sĩ Tô Hải mới xuất bản), đã tạo ra nhiều thắc mắc trong quần chúng: Đây có thực là việc thăm dò lòng yêu nước của người Việt Nam, có thực là việc động viên dân tộc để chiến đấu và bảo vệ tổ quốc? Nếu thế thì tại sao dịp kỷ niệm 30 năm cuộc xâm lược Việt Nam của Trung Cộng (17-2 đến 05-3-1979) -lúc mà dự án về cuộc thi có lẽ đã được xem xét- bao nhiêu phản ứng từ những cựu chiến binh biên giới ngày ấy, từ những con người biết rõ sự thật lịch sử vụ việc vẫn tiếp tục bị bịt miệng, bao nhiêu nấm mộ các anh hùng tử sĩ vẫn khói lạnh hương tàn, đang khi các nghĩa trang đoàn quân xâm lược (gần 40 cái trên đất Việt Nam) thì lại được hương hoa tưởng niệm. Rồi người dự thi đương nhiên phải để lại thông tin, họ tên, địa chỉ… Bài dự thi sẽ được săm soi kỹ lưỡng và kẻ nào chống đối thì bị khoanh vùng nhanh gọn. Phải chăng đây là một âm mưu khéo léo để dụ những con người yêu nước thực sự lộ diện hầu dễ tiêu diệt, y như vụ Nhân văn Giai phẩm và vụ Góp ý cho đại hội X của đảng năm nào? Ngoài ra, ngày 13-05 đã hết hạn đệ trình bản đồ lãnh hải nhưng cuộc thi lại kết thúc vào tháng 08. Vậy là chẳng có tác dụng gì, chẳng để làm gì, chẳng có ý nghĩa gì cho cái tình hình căng thẳng sắp tới cả.
Về cuộc Hội thảo khoa học quanh các dự án bauxite Tây Nguyên vào ngày 09-04, trước hết người ta nhận thấy chẳng có thành viên nào trong bộ chính trị (vốn có quyền lực tuyệt đối) hiện diện, rồi sau khi nghe nghe gần 20 bài phát biểu súc tích, tâm huyết, cụ thể, với một kết luận hầu như đồng thuận là phải chấm dứt ngay việc khai thác do Trung Cộng thực hiện này, phó thủ tướng vô thực quyền Hoàng Trung Hải đã kết luận một cách độc đoán rằng chủ trương của bộ chính trị đảng CS và chính phủ về khai thác bauxite như hiện nay là đúng đắn, vì đây là một nguyên liệu phải tìm cách tận dụng. Chỉ cần quan tâm thêm đến việc quản lý công việc, bảo vệ môi trường, rồi làm đến đâu rút kinh nghiệm đến đó, và khi cần thì sẽ điều chỉnh!?! Đây chỉ là kiểu nói vuốt đuôi để xoa dịu mọi chống đối phẫn nộ. Hoàng Trung Hải khẳng định dự án Tân Rai ở Lâm Đồng vẫn tiến hành theo dự định, chẳng đả động gì đến việc hàng chục ngàn người Trung quốc (mà có thể là binh lính trá hình) đang có mặt và hàng ngàn người khác đang ào vào mỗi ngày tại yết hầu, thắt lưng, yếu huyệt của Việt Nam. Nghĩa là mọi sự đều như cũ! Mặc cho ông Nguyễn Văn Ban nêu rõ Tây Nguyên xa biển, hiếm nước, giá bauxite hiện rất thấp trên thị trường quốc tế, khai thác không lợi còn nhiều hại. Mặc cho ông Nguyễn Ngọc Chất chỉ ra thảm họa sinh thái, sự lỗ lã của đường sắt từ vùng cao xuống bờ biển. Mặc cho ông Nguyễn Trung chỉ ra những bất cập về môi trường, những tốn kém, thiệt hại cho cuộc sống do các bãi thải. Mặc cho nhà văn Nguyên Ngọc cảnh báo rõ rệt về thảm họa gây ra cho văn hóa độc đáo của các sắc tộc ít người. Mặc cho nhà sử học Dương Trung Quốc chất vấn nghiêm khắc sao không trình Quốc hội (cơ quan quyền lực cao nhất theo danh nghĩa) để xem xét kỹ. Mặc cho ông Lê Văn Cương nêu bật vấn đề an ninh quốc phòng, vì từng có 2 cuộc bạo loạn trên vùng đó, chưa kể kinh nghiệm của thời điểm 1975.
3- Những động thái nêu trên rõ ràng không phải là những dấu hiệu thiện chí của một nhà cầm quyền, một đảng trị nước đang biết nghe tiếng lương tâm, tiếng đồng bào, tiếng lẽ phải. Như bao nhiêu lần trong lịch sử 60 năm nay, đó chỉ là một kiểu đóng kịch, trò phường tuồng của đảng CSVN nhằm thoát sức ép của dư luận, hóa giải những chống đối, gỡ ngòi nổ cho cuộc nổi dậy của toàn dân đang chuẩn bị bùng ra, hầu tiếp tục giữ quyền lực.
Vì nếu thành tâm phục thiện, sẵn sàng hòa giải với toàn dân để vận động dân tộc kết đoàn cứu nước trước hiểm họa Trung Cộng vốn ngày càng lộng hành trên đất và trên biển Việt Nam, đảng CSVN phải lập tức thực hiện những việc sau đây: (1) công bố cho quốc dân toàn bộ các văn kiện: Hiệp định lãnh thổ năm 1999, Hiệp định lãnh hải năm 2000 (kèm theo bản đồ); (2) nộp lên Liên Hiệp Quốc bản đồ lãnh hải VN đúng với lịch sử và với luật biển quốc tế trước ngày 13-05-2009, cùng lúc thông báo tài liệu này cho toàn thể mọi người Việt; (3) trả tự do lập tức và vô điều kiện cho tất cả mọi tù nhân chính trị và tôn giáo đang bị giam giữ, đặc biệt các tù nhân đã phản đối việc Trung Cộng xâm lấn Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam (như ký giả Nguyễn Hoàng Hải, giáo viên Vũ Hùng, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, chiến sĩ Phạm Thanh Nghiên, sinh viên Ngô Quỳnh, nhà thơ Trần Đức Thạch, kỹ sư Phạm Văn Trội, dân oan Nguyễn Văn Túc...); (4) ngưng ngay dự án cho Trung Cộng khai thác khoáng sản tại Tây Nguyên và mời các công nhân Trung Quốc ra khỏi nước, đồng thời bỏ luôn đạo luật miễn hoàn toàn visa cho họ; (5) cho tàu hải quân bảo vệ ngư dân Việt Nam đánh cá tại Biển Đông, phải bảo đảm cho họ không bị Trung Cộng sách nhiễu, xua đuổi, hạ sát như ngư dân Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc lâu nay vẫn đánh cá an toàn.
Nhưng tới bây giờ, xem ra đó cũng chỉ là những ước vọng không tưởng, những gáo nước đổ trên đầu một lũ vịt chỉ còn biết nhắm mắt thần phục anh cả đỏ, đại đồng chí, nước lớn Bắc phương. Thành thử toàn dân cần theo lời Hòa thượng Quảng Độ, thực hiện cuộc Bất tuân dân sự-Biểu tình tại gia trong tháng năm hầu tạo nên sức mạnh lật đổ cái ác đảng vô tổ quốc, vô gia đình này.
Nhiều năm nay, có khá đông người viết về Trịnh Công Sơn. Tôi cũng có một số ít kỷ niệm với Trịnh Công Sơn, nhưng không viết ra vì ngại bị độc giả hiểu nhầm mình muốn kiếm chút hơi hướm tên tuổi nơi một thiên tài nổi tiếng. Mới đây họa sĩ Trịnh Cung – Nguyễn văn Liễu – viết một bài có nhan đề “Trịnh Công Sơn và tham vọng chính trị”, rồi sau đó có một số người viết “phản bác” về nội dung bài viết vừa nêu và chê bai nhân cách của tác giả Trịnh Cung, tôi bèn mạo muội tham gia để bày tỏ đôi chút cảm nghĩ cá nhân về một thiên tài từng xem tôi là bạn. Cuộc chiến tranh giữa Tự Do và Cộng Sản bằng súng đạn đã chấm dứt hơn 30 năm, nhưng vết thương vẫn còn rướm máu, mặc dầu bản thân đã có ý muốn chôn vùi quá khứ đau buồn để hướng tới tương lai. Những gì tôi sắp sửa trình bày dưới đây không hề có ý định làm tấy lên vết thương cũ. Vì dù sao, Trịnh Công Sơn đã trở về với Cát Bụi.
Sau khi tình hình chiến sự Tết Mậu Thân 1968 Đợt I đã lắng dịu, Đại tá Lưu Kim Cương phái phi công Nguyễn Qúi Chấn bay ra Huế đón Trịnh Công Sơn vào Sài Gòn. Tôi gặp lại Sơn tại Câu lạc bộ Mây Bốn Phương trong căn cứ Tân Sơn Nhất sau hơn 5 năm xa cách. Hồi tôi gặp Sơn lần đầu tại trường Sư phạm Quy Nhơn, Sơn chưa nổi tiếng. Thật đáng mừng cho Sơn đã may mắn thoát khỏi sự lùng kiếm của Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường. Nếu lúc bấy giờ Sơn bị sa vào tay của hai nhà cách mạng Xuân, Tường có thành tích “phủ khăn sô lên đầu dân Huế” và bị dẫn lên núi theo chân Lê văn Hảo hoặc bỏ xác nơi Bãi Dâu, thì chắc chắn sự nghiệp sáng tác nhạc của Sơn sẽ không có “bề dày” như vào thời điểm 1975.
Phải chăng Trịnh Công Sơn thoát khỏi bàn tay Việt Cộng là nhờ được hưởng phúc đức từ bà mẹ nổi tiếng thờ Phật kính Tăng mà người dân Huế nào cũng biết? Từ sau ngày gặp lại Sơn, tôi thường lui tới chơi với Sơn tại ngôi nhà nằm trên đường Công Lý, đối diện Chùa Vĩnh Nghiêm. Sơn là người hiền lành, nói năng nhỏ nhẹ. Mặc dầu là người có tài và có tiếng tăm, nhưng Sơn khiêm tốn, chưa bao giờ tôi nghe Sơn bình phẩm hay chê bai nhạc sĩ khác.
Tôi từng lái máy bay chở Sơn ra Phú Quốc uống rượu với bạn Nguyễn văn Mãng Thiếu tá Quân Cảnh, Phạm Thọ Trung tá Hải Quân; lên Đà Lạt thăm chị Sâm vợ anh Tốn; ra Huế nhậu với bạn hữu của anh chị Hồ Đăng Lễ. Qua Sơn, tôi giáp mặt với các nghệ sĩ khác như Trịnh Cung, Đinh Cường, Bùi Giáng, nhà báo Phùng thị Hạnh, Trùng Dương, kiến trúc sư Nguyễn Hữu Đống, điêu khắc gia Lê Thành Nhơn, Bửu Tôn … Ngoài ra, còn có Bửu Ý từ Huế vào tá túc ở nhà Sơn để lánh nạn … đi lính! Bạn bè nào cũng qúy mến Sơn, ngay cả những người lính đang ngày đêm hy sinh mạng sống của mình để cho bọn ngụy hòa như ni sư Huỳnh Liên, thầy chùa Nhất Hạnh, giáo gian Nguyễn Ngọc Lan hoặc bà Ngô Bá Thành được quyền biểu tình, lên tiếng đòi chấm dứt chiến tranh.
Tôi kể cho Sơn nghe câu chuyện của ông anh tôi – Đặng văn Châu, Giám đốc Đoàn hoa tiêu (pilotage) sông Sài Gòn kiêm Giám đốc trường Hàng Hải thuộc Trung tâm Kỹ thuật Phú Thọ – là người rất ái mộ Sơn, nhân chuyến đi công du Pháp quốc tình cờ gặp cô cháu gái từ Hà Nội sang tu nghiệp tại Âm Nhạc Viện Paris. Hai chú cháu mừng rỡ khôn xiết. Anh Châu tôi bèn lấy ra hai cuộn băng cassette nhạc của Sơn để tặng. Cô cháu gái liền ném ngay hai cuộn băng vào thùng rác và nói: “Thưa chú, cháu rất yêu qúy chú nhưng rất ghét nhạc Trịnh Công Sơn. Ở Hà Nội chúng cháu không thèm nghe loại nhạc ủy mị than thân trách phận ấy!”. Anh Châu quá bẽ bàng trước phản ứng bất ngờ của cô cháu. Nghe xong, nét mặt Sơn lộ vẻ thất vọng. Tôi nói để như an ủi:
“Sơn ạ! Những ca khúc gọi là "phản chiến" của Sơn không hề làm lay chuyển hay nhụt chí những người lính như bọn moa, vì bọn moa ý thức tại sao phải cầm súng chống lại chủ nghĩa chuyên chính vô sản. Bọn moa có thể vừa nghêu ngao những câu ca thuộc loại “anh trở về trên đôi nạng gỗ hoặc trong cỗ quan tài cài hoa” mà vẫn thản nhiên lao mình vào lửa đạn vì tự biết mình đang trừ gian diệt bạo, chứ không phải vì lòng hận thù. Chính vì thế mà có nhiều anh em quân nhân đánh giặc rất chì vẫn lui tới chơi với Sơn mà không hề bị cơ quan an ninh của chế độ làm khó dễ. Hà Nội không bao giờ chấp nhận Sơn gọi cuộc chiến này là Nội Chiến, vì họ rất tự hào là đội tiền phong đang thi hành nghĩa vụ quốc tế để hoàn thành cuộc cách mạng vô sản toàn thế giới. Chỉ có cán binh cộng sản mới bị Hà Nội cấm nghe nhạc của Sơn”.
Một hôm, ngồi nhậu rượu với Sơn, không hiểu nguyên do nào đưa đẩy câu chuyện liên quan đến Phong trào Nhân dân Cứu quốc do bác sĩ Lê Khắc Quyến lãnh đạo, tôi bực bội nói: “Thú thực với Sơn, moa rất khinh miệt bọn "trí thức rởm" Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngô Kha, Nguyễn Đắc Xuân. Ở Phương Tây, bọn trí thức khuynh tả thiên cộng vì chúng chưa từng nếm mùi cộng sản. Còn ở Việt Nam, tự nhận mình là trí thức mà không hiểu nguyên nhân vì sao hàng triệu người Miền Bắc phải lìa bỏ tài sản, mồ mả tổ tiên để vào Miền Nam hưởng một chút không khí tự do, là ngu si, đần độn. Những nhà ái quốc, văn nghệ sĩ danh tiếng đi theo Việt Minh vì chống Thực dân Pháp, nhưng sau chiến thắng Điện Biên phủ, gông cùm cộng sản xuất hiện với chủ trương đào tận gốc trốc tận rễ thành phần thuộc trí phú địa hào thì dẫu những ai từng lập chiến công với Đảng cũng hết đường cựa quậy. Bộ bọn tranh đấu không hề biết chiến dịch Phóng tay phát động quần chúng, cải cách ruộng đất ở Miền Bắc hết sức tàn bạo dã man hay sao? Một Trần Dần làm bài thơ Nhất Định Thắng có câu "chỉ thấy mưa sa trên nền Cờ Đỏ" và yêu cô gái tiểu tư sản ở lại Miền Bắc là tan nát cả cuộc đời, đến nỗi phải cắt gân máu tay tự vẫn. Một Phùng Quán chỉ làm hai bài thơ Lời Mẹ Dặn và Chống Tham Ô Lãng Phí là bị bầm dập. Một Văn Cao phải ngưng sáng tác âm nhạc mà chỉ còn vẽ vời lăng nhăng để tránh bị quy cho cái tội mất lập trường giai cấp. Một Nguyễn Hữu Đang có công dựng lễ đài ở Quảng trường Ba Đình để Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập cũng không thoát khỏi tù tội. Phải chăng bọn trí thức chủ trương tờ báo Đứng Dậy đòi hỏi công bằng là để cho nhân dân Miền Nam này cũng phải chịu chung số phận tôi đòi như nhân dân Miền Bắc lầm than, khốn đốn thì mới hả dạ?”
“ … Bọn trí thức phương Tây có xu hướng tả khuynh là một kiểu làm dáng thời thượng không nguy hại cho nền an ninh của nước họ, vì những định chế dân chủ của các nước đó đã vững vàng. Còn nước ta đang đối diện một cuộc chiến một mất một còn chống lại kẻ xâm lăng, mà bọn trí thức bắt chước làm dáng tả khuynh là nhắm tố cáo với thế giới rằng công cuộc tự vệ của Miền Nam là phi chính nghĩa nghĩa và nhằm tiếp tay tuyên dương kẻ địch có chính nghĩa giải phóng dân tộc. Hoa Kỳ giúp Việt Nam ngăn chặn làn sóng đỏ, trí thức là “cái đầu” của Đất Nước, mà thiên về phía Cộng Sản thì nhân dân Hoa Kỳ không còn có lý do để giúp chúng ta. Vì vậy, phong trào phản chiến ở Hoa Kỳ mới có cơ phát triển dữ dội. Sơn có ý thức điều đó hay không? Sơn có biết Miền Nam sẽ trở thành trại lính hoặc nhà tù như Miền Bắc không, nếu cộng sản cai trị toàn bộ Đất Nước? Trịnh Công Sơn nghe tôi đặt ra những câu hỏi dồn dập, vẫn thản nhiên hút thuốc lá và chậm rãi nâng ly nhắp từng ngụm rượu đắc tiền của bọn “đế quốc xâm lược”.
Bửu Ý liếc nhìn tôi, rồi liếc nhìn Sơn, miệng tủm tỉm cười. Lúc bấy giờ tôi không hiểu ý nghĩa cái cười tủm tỉm của Bửu Ý. Và cho đến nay, khi viết những dòng chữ này, tôi cũng chưa hiểu vì sao Bửu Ý tủm tỉm cười. Thật bí hiểm! Tôi đoán có lẽ Bửu Ý cười tủm vì cho rằng tôi là một anh võ biền, chẳng có kiến thức gì lại cố gắng thuyết phục Trịnh Công Sơn đừng mơ tưởng cộng sản? Không, tôi biết cả hai người, Trịnh Công Sơn và Bửu Ý, chẳng thể nào trở thành cộng sản được, như chuẩn mực Hồ Chí Minh xác quyết: “Phải là con người xã hội mới yêu chủ nghĩa xã hội”. Mà Sơn và Ý không phải là mẫu người xã hội! Sơn và Bửu Ý là người đọc nhiều sách vở, nhưng không nhìn thẳng vào thực tế đang diễn ra trước mắt, lại sống trong tháp ngà, hưởng thụ rượu nồng, dê béo.
Trịnh Công Sơn mô tả cuộc sống hàng ngày của mình là “Đêm Không Ngủ, Ngày Bất Tỉnh” mà bất cứ ai đã từng gần Sơn đều nghe Sơn nói câu đó. Nghĩa là uống rượu, nhậu nhẹt từ khi đêm chưa xuống cho đến ba bốn giờ sáng; ban ngày thì ngủ vùi bất tỉnh nhân sự. Sơn là một người có biệt tài viết nhạc với những ca từ “phù thủy” làm mê hoặc những tâm hồn mơ mộng và Sơn cũng là người cực kỳ thông minh vì biết khai thác đề tài “chiến tranh – thân phận giống da vàng” phù hợp xu hướng thời đại để làm cho mình nổi tiếng. Sơn biết lợi dụng sự “thông thoáng” của chế độ Miền Nam và biết bám vào những người có quyền như Lưu Kim Cương, Hoàng Đức Nhã để trốn tránh nghĩa vụ quân dịch; đồng thời nghiêng về nhóm “tranh đấu đểu” loại Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường”, nghĩa là bắt cá hai tay, dù ai thắng thì mình cũng hưởng lợi. Nói tóm lại, Sơn là mẫu người có tài, ham thụ hưởng, không hề biết thương xót kẻ khốn cùng và không có lòng lân tuất đối với kẻ sa cơ. Xin chứng minh: – Nữ danh ca phản chiến trứ danh của Hoa Kỳ là Joan Baez sau khi chứng kiến những thuyền nhân Việt Nam chết chìm ngoài biển Đông, bà đã tỉnh ngộ, bèn tập hợp được một nhóm người nổi tiếng (celebrities) cùng ký vào bản lên án chế độ độc tài chuyên chính cộng sản. Đó là hành động xứng đáng của người trí thức khi biết mình sai lầm thì phản tỉnh và chống lại sự tàn bạo dã man. Chỉ có riêng Trịnh Công Sơn không một chút mảy may động tâm thương xót người chết đuối ngoài biển cả, nên đã viết thư cho bà Joan Baez để bào chữa cho chế độ bất nhân bằng câu: “Có thể nào chị và những người bạn Mỹ cùng ký tên trong một lá thư ngỏ ấy không hiểu rằng sau một cuộc cách mạng đất nước nào cũng phải chịu đựng những khó khăn, bề bộn và bối rối nhất định?..”
Hàng trăm ngàn thuyền nhân chết đuối ngoài biển đã thức tỉnh lương tâm nhân loại, riêng Trịnh Công Sơn – người nhạc sĩ được chế độ Ngụy đùm bọc – lại đi bênh vực bạo quyền mà dám gọi đấy là cuộc cách mạng! Chỉ có thiên tài với tấm lòng lạnh giá như băng mới mô tả đời sống nhân dân cả nước phải nhai bo bo, dáo dác đi tìm đường vượt biên bằng mấy câu ca mô tả cảnh thanh bình: “Em ra đi nơi này vẫn thế, lá vẫn xanh trên con đường nhỏ, vườn xưa vẫn có tiếng Mẹ ru, có tiếng em thơ, có chút nắng trong tiếng gà trưa …” .
Trong khi những bằng hữu từng cưu mang mình, từng rót không biết bao nhiêu hồ rượu thượng hảo hạng cho mình như Phạm Thọ, như Lê Kim Lợi, như Hồ Đăng Lễ đang rũ tù trong trại khổ sai … thì Trịnh Công Sơn hân hoan “Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui” để tới lui khề khà với những người bạn “cách mạng” có vây có cánh! Nhờ đâu Sơn đã có nhiều niềm vui đến thế? Từ ông Võ văn Kiệt chăng? – Trịnh công Sơn viết báo cộng sản nhục mạ những anh em chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, những người từng che chở cho Sơn, khiến cho ông anh tôi – Đặng văn Châu – không là quân nhân cũng phải nổi sùng. Năm 1994 về VN tình cờ gặp Trịnh Xuân Tịnh, em Sơn, ở sân bay Tân Sơn Nhất, anh tôi đã nhắn: “Anh Tịnh về nói với Sơn rằng Sơn là một con Số Không, là kẻ vong ân bội nghĩa”. – Anh XYZ (nhân vật yêu cầu tôi dấu tên), một người anh em ăn ở hết lòng với Sơn và bạn bè, đi tù khổ sai về bị tai nạn gãy chân, phải vào nằm bệnh viện. Sơn làm ngơ như không hề hay biết. Mẹ Sơn hỏi con trai: “Tại sao con không vào nhà thương thăm anh XYZ một chút cho có tình?”. Sơn đáp: “Đi ra Givral uống rượu còn thú hơn là đi thăm anh XYZ”. Chính bà mẹ Sơn là người thuật lại cho anh XYZ nghe câu nói phũ phàng của Sơn. Anh XYZ là người đàn anh của nhóm bạn văn nghệ ở Huế, rất được bằng hữu kính trọng và yêu thương, hiện sinh sống tại Hoa Kỳ.
Theo quan điểm của tôi, một người nghệ sĩ được đánh giá là chân chính thì không bám vào kẻ quyền thế để mưu lợi riêng, thủy chung với bạn bè, biết xót xa với nỗi bất hạnh của kẻ yếu để không bênh vực cho kẻ gieo TỘI ÁC. Lời phản bác của Sơn đối với bức thư của ca sĩ Joan Baez lên án chế độ vô nhân đạo là sự đồng lõa, a tòng với TỘI ÁC, mà một con người bình thường có nhất điểm lương tâm không bao giờ làm. Phải chăng nhờ bức thư phản bác ca sĩ Joan Baez của Sơn mà Võ văn Kiệt cứu Sơn thoát khỏi bàn tay Trần Hoàn và phe nhóm Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường ở Huế? Nhờ sống với “Ngụy Quyền” Miền Nam, Trịnh Công Sơn nổi tiếng cả thế giới và được hàng triệu thính giả ái mộ. Nếu Sơn sống với “Chuyên Chính Vô Sản” Miền Bắc thì Sơn – một thiên tài – có rất nhiều khả năng trở thành Tố Hữu – nhà thơ thổi ống đu đủ – thăng quan tiến chức nhờ xu phụ quyền lực. Nhưng Sơn sẽ khổ sở vô cùng, vì Miền Bắc không có rượu thượng hảo hạng để uống mỗi ngày!
Tôi không chắc Trịnh Công Sơn có tham vọng chính trị như Trịnh Cung viết. Nhưng năm 1974, có nhóm tranh đấu đòi hòa bình (bịp) mời Sơn tham gia phong trào ca hát để vận động chấm dứt chiến tranh thì anh em bạn hữu khuyên Sơn đừng nhận lời, Sơn đáp thẳng thừng: “Mình phải tham gia để nếu họ thắng lợi thì mình có tiếng nói”. Lời bày tỏ của Sơn biểu hiện bản chất của con người biết tính toán để mưu cầu lợi ích bản thân. Qua bức thư Sơn viết cho Ngô Kha vào năm 1974 có đoạn như sau: “Hôm nay những thành thị miền Nam đang vươn vai đứng dậy. Trời đất được cơ hội thoát ra không khí ô nhiễm để thở bằng sinh lực mới cùng tập thể nhân dân yêu nước, yêu hòa bình và tự do. Phải chăng hồi chuông báo tử đã được gióng lên để những gì cần phải tàn tạ hãy tàn tạ nhanh chóng.”. Đó là luận điệu dồi trá, bịp bợm của người nghệ sĩ có tên tuổi nhưng thiếu nhân cách, bởi vì trong thực tế nơi nào bị cộng sản tấn công thì nhân dân nơi đó bồng bế nhau chạy về phía Việt Nam Cộng Hòa, chứ không chạy qua vùng “giải phóng”. Người nào đọc thư Sơn viết cho Ngô Kha mà bảo rằng Sơn không hề có chủ tâm đứng về phía cộng sản là người đó mắc chứng “phương trệ tinh thần” (down syndrome).
Ba mươi Tháng Tư năm 1975, nằm ở đảo Guam tôi nghe đài BBC loan tin Trịnh Công Sơn ôm đàn lên đài phát thanh Sài Gòn ca bài “Nối Vòng Tay Lớn” thì tôi dự đoán cuộc đời của Sơn sắp tiêu ma. Bởi vì cái bản chất đố kỵ của người cộng sản không bao giờ chấp nhận người ngoài đảng được phép nổi đình nổi đám được quần chúng hoan hô! Quả nhiên chẳng bao lâu sau Sơn bị cộng sản đe dọa tính mạng, nên Sơn phải chạy về Huế để mong được bạn bè che chở. Không ngờ những người bạn của Sơn như Hoàng Phủ Ngọc Tường và Nguyễn Đắc Xuân đã quay lưng làm ngơ để cho Sơn bị Trần Hoàn đày đi lao động thực tế! Tình nghĩa bạn bè của cộng sản là như thế đấy! Trịnh Công Sơn, một người nghệ sĩ tài hoa, được bạn hữu Miền Nam qúy mến, bảo bọc lại bí mật rấp tâm thông đồng với bọn sát nhân nhằm giật sập chế độ Việt Nam Cộng Hòa, để rồi bị khốn đốn vì bọn sát nhân. Con người một dạ hai lòng, dù có tài đến mấy đi nữa, thì vẫn đáng khinh.
Bài viết của Trịnh Cung về Trịnh Công Sơn đã khiến cho một số người lên tiếng bênh vực “thiên tài”. Chúng ta không ngạc nhiên chút nào, bởi vì ngay như tội ác của Hitler, Staline, Mạo Trạch Đông vẫn có kẻ bênh vực và tôn thờ. Nhưng những ý kiến phản bác bài viết của Trịnh Cung đều có luận điệu mạt sát và bôi nhọ Trịnh Cung, mà không hề thấy có lời lẽ nào lên án hành vị “một dạ hai lòng ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản” của Trịnh Công Sơn khiến cho chúng ta thấy được tác giả của những ý kiến phản bác đều thuộc phe … xã hội chủ nghĩa, chứ không phải sự lên tiếng là vì SỰ THẬT. Sự Thật đó là Trịnh Công Sơn có ngả về phía cộng sản.
Trong số những người lên tiếng bênh vực Trịnh Công Sơn trên Thanh Niên online có hai Việt Cộng khá tên tuổi. Đó là hai “tội phạm chiến tranh” Hoàng Phủ Ngọc Tường và Nguyễn Đắc Xuân từng chôn sống hàng ngàn người dân Huế vô tội vào năm Mậu Thân 1968. Hai tên tội phạm đó đã ra cái điều trí thức, lấy danh nghĩa chống Mỹ cứu nước để đẩy cả nước xuống hầm tai họa. Từ tháng Tư năm 1975 cho đến nay chưa ai nghe thấy hai kẻ đó có một lời nói hay hành động sám hối. Ngày xưa sống dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa, hai ông Việt Cộng này hung hăng chống độc tài quân phiệt tay sai đế quốc ngoại bang. Ngày nay sống với Xã hội Chủ Nghĩa chủ trương đàn áp nhân dân biểu tình tỏ bày lòng yêu nước chống lại Trung Cộng cướp đất, cướp biển; dân oan khiếu kiện nằm la liệt dải gió dầm sương; các nhà tôn giáo bị đàn áp, các nhà dân chủ bị bịt miệng, bị cầm tù thì hai ông Việt Cộng này ngậm miệng giống như câm, như điếc.
Họa sĩ Trịnh Cung tung ra một bài viết tiết lộ một chút xíu bí mật về Trịnh Công Sơn thì hai ông Việt Cộng Tường, Xuân hăm hở nhào ra bảo vệ uy tín thiên tài có quá trình đi đêm với cộng sản! Tình trạng đạo lý suy đồi, quan chức ăn cắp từ trên xuống dưới, nhân quyền bị xếp hạng chót trên thế giới là những thành quả to lớn của Cộng Sản Việt Nam mà hai ông Tường, Xuân đã dày công đóng góp. Cho nên, ngày trước tôi nói với Trịnh Công Sơn rằng tôi rất khinh bỉ bọn trí thức tranh đấu là một lũ bịp bợm, lưu manh quả không sai. Khi chuyên chở tù binh cộng sản từ chiến trường, tôi biếu họ điếu thuốc lá, cái kẹo vì tôi thương và tôi kính trọng người lính khác chiến tuyến bị sa cơ. Nhưng tôi khinh bỉ những kẻ được ăn sung mặc sướng ở phần đất tự do lại ngấm ngầm tư thông với giặc. Thật đáng tiếc cho Trịnh Công Sơn, một thiên tài nhưng đốn mạt. Sơn không xứng đáng là một người nghệ sĩ được đa số khán thính giả ngưỡng mộ, vì Sơn cũng chẳng khác với hai ông Việt Cộng Hoàng Phủ Ngọc Tường và Nguyễn Đắc Xuân bao nhiêu.
Mới đây, đọc “Hồi Ký Của Một Thằng Hèn” của nhạc sĩ Tô Hải, tôi không hề coi khinh tác giả, trái lại rất kính trọng bởi vì dám nhận mình hèn. Tác giả phải sống dưới chế độ độc tài toàn trị có kỹ thuật hủy hoại người thẳng thắn, người cương trực một cách dã man khủng khiếp, khiến cho ai nấy đều trở nên hèn. Đọc hồi ký của nhà phê bình văn học Nguyễn Đăng Mạnh kể lại những “cái hèn” của những văn nghệ sĩ Miền Bắc, tôi vô cùng xót xa cho họ và càng thù ghét chính sách cai trị phi nhân của cộng sản. Lặp lại, nhạc sĩ Tô Hải dám nói lên cái hèn của mình, tôi xin ca ngợi ông là người có khí phách. Ở Miền Nam có chủ trương đề cao nhân tài, dù sản phẩm nhân tài làm ra nhằm làm suy giảm tinh thần chiến đấu của quân sĩ, vẫn được tự do phổ biến, mà nhân tài vẫn tư thông với địch mới là đáng khinh.
Hai ông Việt Cộng Hoàng Phủ Ngọc Tường và Nguyễn Đắc Xuân dùng đạo lý tình bằng hữu để miệt thị họa sĩ Trịnh Cung lừa thầy phản bạn là một hành vi đạo đức giả. Hai ông Việt Cộng từng phản lại khát vọng tự do của nhân dân Miền Nam để dẫn “Bộ Đội Cụ Hồ” về chôn sống người Huế vô tội, thì hai ông không có tư cách gì để nói đến tình nghĩa bạn bè, tình nghĩa con người. Hơn ba mươi năm qua, Đất Nước đắm chìm trong nghèo đói, áp bức, bất công, hai ông Việt Cộng Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân không tỏ bày một chút ân hận, lại còn lên mặt đạo đức giả mới là kẻ hèn, đáng khinh bỉ. Đọc bài “Tình bạn, hồi sinh cơn hôn mê” của họa sĩ Đinh Cường viết từ Virginia từ ngày 16 tháng 4 năm 2001, tôi không khỏi đem lòng hoài nghi cung cách ứng xử với nhau giữa các ông nghệ sĩ tên tuổi.
Nhờ sự tiết lộ của Trịnh Cung, tôi mới hiểu vì sao Đinh Cường viết những lời ưu ái với ông Việt Cộng Hoàng Phủ Ngọc Tường, tác giả bài “Ai đã đặt tên cho dòng sông” đã không ngần ngại ca ngợi nhà thơ Tố Hữu bằng câu văn như sau: “nó đột khởi thành sức mạnh phục sinh của tâm hồn, trong thơ Tố Hữu”.
Nhắc lại: Tố Hữu là nhà thơ dùng quyền lực của Đảng làm khốn đốn, điêu đứng nhiều anh em nghệ sĩ Miền Bắc. Còn ông Việt Cộng Nguyễn Đắc Xuân bây giờ là nhà nghiên cứu! Chắc chắn nhà nghiên cứu này còn bám lấy chủ nghĩa Marxist – Léninist thì sẽ ngụy tạo ra những bài nghiên cứu theo đường lối “duy vật sử quan” cho phù hợp lập trường của Đảng để được Đảng cho đi Mỹ, đi Tây khua môi, múa mép. Các cụ nhà ta thường nói: “Phủ bênh phủ, huyện bênh huyện”. Hai ông Việt Cộng Hoàng Phủ Ngọc Tường và Nguyễn Đắc Xuân càng nỗ lực bênh vực Trịnh Công Sơn và miệt thị Trịnh Cung bao nhiêu, thì tội trạng Trịnh Công Sơn tư thông với kẻ thù càng rõ nét bấy nhiêu.
“Thời Của Những Kẻ Giết Người” biết đến bao giờ mới được lương tri soi sáng để can đảm nói một lời sám hối với những vành khăn tang trắng xóa đất Thần kinh thì chúng ta mới hy vọng Đất Nước có ngày hồi sinh.