Thơ ca cổ điển Trung Quốc KINH THI
Kinh Tinh”—Tập thơ đầu tiên của Trung Quốc |  | 中国国际广播电台 Thế kỷ 7 trước công nguyên, “Kinh Thi”—tập thơ đầu tiên của Trung Quốc ra đời, trong đó có sử thi, thơ châm biếm, thơ kể chuyện, thơ viết về tình yêu, thơ viết về chiến tranh, thơ với nội dung ca ngợi một thứ gì đó, thơ viết về mùa cũng như ca dao lao động. Dù “Kinh Thi” không phải do một người sáng tác, nhưng nó ra đời sớm hơn hàng trăm năm so với “Sử Thi Hô-me” nổi tiếng Cổ Hy Lạp.
“Kinh Thi” là tập thơ đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc, cả thảy thu tập 305 bài thơ trong khoảng 500 năm từ những năm đầu đời Tây Chu ( thế kỷ 11 trước công nguyên ) đến giữa thời kỳ Xuân Thu ( thế kỷ 7 trước công nguyên ). “Kinh Thi” chia thành ba bộ phận là “Phong”, “Nhã”, “Tụng”. Bộ phận “Phong” chỉ bài hát dân gian của 15 nước chư hầu, cả thảy có 160 bài; bộ phận “Nhã” chỉ bài hát của các khu vực lân cận thủ đô nhà Chu, cả thảy có 105 bài; bộ phận “Tụng” chỉ nhạc nhà vua dùng vào tế lễ tôn thất, nhằm ca ngợi công lao lớn lao của tổ tiên và quyền uy to lớn của quỷ thần, bao gồm bài hát tế lễ, thơ ca ngợi v.v., cả thảy có 40 bài. Về hình thức, “Kinh Thi” chủ yếu áp dụng hình thức thơ tứ ngôn, cũng có câu hai chữ, câu ba chữ, câu năm chữ, câu sáu chữ, câu bẩy chữ, câu tám chữ, đồng thời sử dụng nhiều hình thức láy chữ, lặp lại âm đầu, láy vần, khiến tác phẩm văn học này có vẻ linh hoạt đa dạng, khi đọc có tiết tấu mạnh, yếu xen kẽ nhau, mang tính âm nhạc mạnh mẽ. Xét từ nội dung, phần “Phong” là tinh hoa của “Kinh Thi”. Vì các bài thơ này đều đến từ dân gian, không có hoặc ít có gọt giũa, thể hiện cái lộng lẫy và đa dạng của dân ca đời Chu. Tác phẩm trong phần “Phong” phản ánh cuộc sống chân thật của người lao động bình thường, ví dụ bài “Quan Thư” và bài “Xuất Kỳ Đông Môn” bày tỏ thanh niên nam nữ hướng về và theo đuổi tình yêu mỹ mãn; bài “Phạt Đàn” và bài “Thạc Thử” viết về nô lệ phẫn nộ chất vấn chủ nô ăn không ngồi rồi; và bài “Dương Chi Thủy” và bài “Quân Tử Vu Dịch” viết về chiến tranh v.v. Tác giả “Kinh Thi” có thành phần hết sức phức tạp, nếu coi thân phận của người kể chuyện trong thơ là thân phận của tác giả, thế thì tác giả “Kinh Thi” vừa bao gồm người lao động, chiến sĩ, vừa bao gồm một số nhân vật đáng kể thuộc tầng lớp “Sĩ” và “Quân tử”. “Sĩ” là tầng lấp thấp nhất trong giai cấp quý tộc, “Quân tử” là tên gọi chung đối với quý tộc. Ngoài ra, còn có nhiều nhân vật không thể xác định được thân phận. Các tác phẩm trong “Kinh Thi” ban đầu có tác dụng chủ yếu như sau: một là coi như một bộ phận của lễ chúc mừng, cho mọi người ngâm nga; hai là giải trí; ba là bày tỏ nhận xét của tác giả đối với những vấn đề xã hội và chính trị. Nhưng sau đó, “Kinh Thi” dần dần trở thành sách giáo khoa văn hóa được phổ biến sử dụng trong giáo dục quý tộc, học tập “Kinh Thi” trở thành tố chất văn hóa mà nhân sĩ quý tộc nhất thiết phải có, được xếp vào danh mục mấy quyển sách kinh điển quan trọng nhất của Trung Quốc. Giáo dục này có tác dụng làm đẹp ngôn ngữ, nhất là trong trường hợp xã giáo, người ta thường cần trích dẫn câu thơ trong “Kinh Thi” để gián tiếp bày tỏ ý mình. Cuốn sách “Luận Ngữ” ghi lại lời nói của Khổng Tử: “Bất học ‘Thi’, bất dĩ ngôn”, đặt “Kinh Thi” lên vị trí cực cao. Nói chung, “Kinh Thi” là khởi điểm huy hoàng của văn học Trung Quốc, là tiêu chí văn học Trung Quốc phát triển rất sớm. Nội dung của “Kinh Thi” đề cập tới các mặt cuộc sống xã hội trong thời kỳ đầu Trung Quốc, ví dụ, lao động với tình yêu, chiến tranh với sưu dịch, áp bức với chống đối, phong tục với hôn nhân, cúng tổ tiên với yến tiệc, thậm chí bao gồm các mặt như thiên văn, địa lý, động vật, thực vật v.v. Ngôn ngữ của “Kinh Thi” là tư liệu quan trọng nhất để nghiên cứu những nét chính của tiếng Hán từ thế kỷ 11 trước công nguyên đến thế kỷ 6 trước công nguyên. | http://vn1.chinabroadcast.cn
Kinh thi là tập thơ đầu nguồn, cũng là tác phẩm đầu tiên của văn học Trung Quốc ( trước đó có một số bài thơ cổ, một số đoạn văn nhưng chưa thành tác phẩm ).
Chữ Kinh có hai nghĩa: Kinh điển: nghĩa là chuẩn mực ; Đạo thường: nghĩa là trường tồn bất biến. Kinh thi là thơ ca chuẩn mực, là đạo muôn đời. Kinh thi ra đời cách đây khoảng 2500 năm, vào khoảng thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên. Đó là sáng tác của nhiều người, đa số là người lao động, một số của quí tộc và sĩ đại phu trong khoảng thời gian chừng 500 năm đầu Tây Chu đến giữa Xuân Thu ( 11 TCN - 6 TCN ).
Theo truyền thống người ta chia Kinh thi làm 3 phần: Phong, Nhã, Tụng. Tiêu chuẩn để phân loại là nhạc điệu. Phong là nhạc địa phương ở các nước chư hầu nhà Chu. Các bài dân ca sưu tầm được ở các địa phương gọi là Quốc Phong, tất cả có 15 Quốc Phong: Trịnh phong, Tần phong, Vệ phong, ... Nhã gồm Đại Nhã và Tiểu Nhã. Đại Nhã là nhạc chương của triều đình, Tiểu Nhã là nhạc chương của quí tộc, đại phu. Tụng vốn là nhạc dùng trong tế lễ.
Cái quí nhất trong Kinh thi là chân chấc mộc mạc. Lê Quí Đôn từng nói: " Thơ phát khởi trong lòng người ta. Ba trăm bài trong Kinh thi phần nhiều là của nông phu, phụ nữ làm ra mà có những bài văn sĩ đời sau không theo kịp, như thế là vì nó chân thực " ( Vân đài loại ngữ ).
Quan Thư
Quan quan thư cưu Tại hà chi châu. Yểu điệu thục nữ Quân tử hảo cầu. Sâm si hạnh thái Tả hữu lưu chi Yểu điệu thục nữ Ngụ mị cầu chi Cầu chi bất đắc Ngụ mị tư phục Du tai ! Du tai ! Triển chuyển phản trắc. Sâm si hạnh thái Tả hữu thái chi. Yểu điệu thục nữ Cầm sắt hữu chi. Sâm si hạnh thái Tả hữu mạo chi. Yểu điệu thục nữ Chung cổ lạc chi.
Dịch nghĩa:
Chim thư cưu
Đôi chim thư cưu (1) gù nhau ở ngoài bãi sông. Người con gái xinh đẹp dịu dàng thật xứng đôi cùng người quân tử. Rau hạnh nhấp nhô, lả lướt theo dòng nước. Người con gái xinh đẹp dịu dàng làm cho người quân tử lúc thức lúc ngủ đều mong cầu. Cầu mà chẳng được, thức ngủ đều mơ tưởng. Ôi đêm dài sao! Đêm dài sao! Trằn trọc, nghiêng ngửa hoài! Rau hạnh nhấp nhô lúc hái bên trái, lúc hái bên phải. Người con gái xinh đẹp dịu dàng, ta muốn gẩy đàn sắt để làm bạn. Rau hạnh nhấp nhô, lúc sang trái, lúc sang phải, phải chọn mà nấu. Người con gái xinh đẹp, dịu dàng ta muốn rung chuông đánh trống để mừng vui.
Chú thích: (1) Thư cưu: loài chim nước ở vùng sông Giang sông Hoài, loài chim này luôn đi chung với nhau từng đôi.
Thất nguyệt
Thất nguyệt lưu hỏa Cửu nguyệt thụ y Nhất chi nhật tất phát Nhị chi nhật lật liệt. Vô y vô hạt Hà dĩ tốt tuế? Tam chi nhật vu tỷ ( tự ) Tứ chi nhật cử chỉ. Đồng ngã phụ tử Diệp bĩ nam mẫu Điền tuấn chí hỉ.
Thất nguyệt lưu hỏa Cửu nguyệt thụ y Xuân nhật tải dương Hữu minh thương canh. Nữ chấp ý khuông Tôn bỉ vi hành. Viện cầu nhu tang Xuân nhật trì trì Thái phồn kỳ kỳ Nữ tâm thương bi Đãi cập công tử đồng quy.
Thất nguyệt lưu hỏa Bát nguyệt hoàn vĩ. Tàm nguyệt điều tang. Thủ bỉ phủ thương Dĩ phạt viễn dương, Y bỉ nữ tang. Thất nguyệt minh quyết Bát nguyệt tái tích Tái huyền tái tích Tái huyền tái hoàng Ngã chu khổng dương Vi công tử thường.
Tứ nguyệt tú yêu Ngũ nguyệt minh điều. Bát nguyệt kỳ hoạch Thập nguyệt vẫn trạch Nhất chi nhật vu lạc Thủ bỉ hồ li Vi công tử cầu. Nhị chi nhật kỳ đồng Tái toản vũ công. Ngôn tư kỳ tông Hiến kiên vu công. Ngũ nguyệt tư chung động cổ Lục nguyệt sa kê chấn vũ. Thất nguyệt tại dã. Bát nguyệt tại vũ. Cửu nguyệt tại hộ Thập nguyệt tất xuất nhập ngã sàng hạ. Khung trất huân thử Tái lương cẩn hộ. Ta ngã phụ tử. Viết vi cải tuế Nhập thử thất xứ Lục nguyệt thực uất cập úc Thất nguyệt phanh quỳ cập thực. Bát nguyệt bác táo Thập nguyệt hoạch đao Vi thủ xuân tửu Dĩ giới my thọ Thất nguyệt thực qua Bát nguyệt đoạn hồ Cửu nguyệt thúc thủ Thái đồ tân hư Thực ngã nông phu.
Cửu nguyệt trúc đường phố, Thập nguyệt nạp hòa giá. Thử tắc trùng mục Hoà ma thúc mạch. Ta ngã nông phu Ngã giá ký đồng Thượng nhập chấp cung công! Trú nhĩ vu mao Tiêu nhĩ sách đào Cực kỳ thừa ốc Kỳ thủy bá bách cốc.
Nhị chi nhật tạc băng xung xung Tam chi nhật nạp vu lăng âm Tứ chi nhật kỳ tao Hiến cao tế phĩ Cửu nguyệt túc sương Thập nguyệt địch trường. Bằng tửu tư hưởng Viết sát cao dương. Tế bỉ công đường Xưng bỉ tư quang Vạn thọ vô cương!
Dịch nghĩa:
Tháng bảy
Tháng bảy sao hỏa chuyển về hướng Tây, tháng chín giao việc may quần áo rét cho đàn bà. Tháng mười một gió lạnh đã tới, tháng mười hai hơi lạnh đã tràn khắp nơi. Không có áo ấm không có chăn mền làm sao sống qua mùa đông! Tháng giêng sửa soạn cày bừa đến tháng hai phải ra đồng. Vợ con cùng đi theo mang cơm ra đồng. Các quan trông nôm việc nông cũng đến cùng vui vầy. Tháng bảy sao hỏa chuyển về hướng Tây, tháng chín giao việc may quần áo rét cho đàn bà. Ngày xuân trời ấm áp, con chim hoàng anh hót líu lo. Các cô gái tay xách giỏ tre xinh xắn đi theo đường mòn hái lá dâu non. Mùa xuân ngày dài, hái được rất nhiều lá dâu. Các cô gái lo buồn, họ sợ công tử bắt về. Tháng bảy sao hỏa chuyển về hướng Tây, tháng tám đi chặt cỏ lau ( làm nong tằm ). Đến tháng nuôi tằm cắt sửa cành dâu, lấy rìu chặt bớt những cành mọc dài và xa, vin cành dâu thấp hái lá dâu non. Tháng bảy con quyết (1) kêu, tháng tám bắt đầu dệt vải. Tấm vải màu đen, màu vàng, màu đỏ rất đẹp để dâng công tử may áo quần. Tháng tư cỏ yêu (2) kết trái, tháng năm ve kêu. Tháng tám gặt hái, tháng mười lá cây rụng. Tháng mười một đi săn chồn, săn được chồn mang về lột da cho công tử làm áo. Đến tháng mười hai tụ tập lại cùng đi săn. Được con thú nhỏ về ta, được con thú lớn nộp quan. Tháng năm dế cọ thân, tháng sáu cồ cộ (3) đập cánh. Tháng bảy ( chúng nó ) ở ngoài đồng, tháng tám bò vào thềm, tháng chín vào nhà, tháng mười vào tận giường ngủ. Bít kín các khe hở, đốt lửa hun chuột. Che kín cửa lớn, cửa sổ hướng Bắc. Gọi vợ con bảo rằng: Một năm đã qua, vợ ơi, con ơi vào nhà mà trú! Tháng sáu ăn quả lê, quả mận, tháng bảy nấu quì, nấu đậu. Tháng tám trẩy táo, tháng mười gặt lúa, nấu rượu xuân trường thọ. Tháng bảy ăn dưa, tháng tám hái bầu, tháng chín hái mè. Hái các thứ rau đắng mà ăn, phá chặt cây mục làm củi. Người nông phu chỉ có vậy. Tháng chín sửa sân đập lúa, tháng mười một nộp lúa vào kho. Tất cả lúa mì, lúa mạch, lúa sớm, lúa muộn, đậu, vừng. Bọn nông phu chúng ta, lúa nộp rồi, còn phải xây dinh thự. Ban ngày cắt tranh, ban đêm bện thừng, trèo nhanh lên mái nhà, đề vụ gieo mạ sắp bắt đầu. Tháng chạp đục băng kêu chan chát, tháng giêng đem băng vào hầm đất, tháng hai sớm dâng tế cúng dê, cúng hẹ. Tháng chín sương xuống, tháng mười quét dọn sân, bày rượu mời bạn bè. Lại giết dê, dâng rượu lên chốn công đường chúc mừng "vạn thọ vô cương".
Chú thích: (1) Con quyết: một loại chim giống sáo (2) Cỏ yêu: một loại cỏ mọc yêu và kết trái (3) Con cồ cộ (sa kê): một loài cào cào to
Thủy Điệu Ca
Tô Ðông Pha
Minh nguyệt kỉ thời hữu? Bả tửu vấn thanh thiên: "Bất tri thiên thượng cung khuyết, Kim tịch thị hà niên?" Ngã dục thừa phong qui khứ, Hựu củng huỳnh lâu ngọc vũ, Cao xứ bất thăng hàn. Khởi vũ lộng thanh ảnh, Hà tự tại nhân gian!
Chuyển chu các, Ðê ỷ hộ, Chiếu vô miên, Bất ưng hữu hận, Hà sự trường hướng biệt thời viên? Nhân hữu bi hoan li hợp, Nguyệt hữu âm tình viên khuyết, Thử sự cổ nan toàn. Ðãn nguyện nhân trường cửu, Thiên lý cộng thiền quyên.
Dịch
Mấy lúc có trăng thanh? Cất chén hỏi trời xanh: "Cung khuyết trên chính từng, Ðêm nay là đêm nào?" Ta muốn cưỡi gió bay lên vút, Lại sợ lầu quỳnh cửa ngọc, Trên cao kia lạnh buốt. Ðứng dậy múa giỡn bóng, Cách biệt với nhân gian!
Trăng quanh gác tía, Cuối xuống cửa son, Dòm kẻ thao thức, Chẳng nên ân hận, Sao cứ biệt li thì trăng tròn? * Ðời người vui buồn li hợp, Trăng cũng đầy vơi mờ tỏ, Xưa nay đâu có vạn toàn. Chỉ nguyện đời ta trường cửu, Bay ngàn dặm cùng với thuyền quyên. **
Dịch thuật Nguyễn Hiến Lê
Chú thích: * Nhớ Tử Do (em của ông). ** Tiếng thuyền quyên này nghĩa gốc trỏ mọi người đẹp, không riêng đàn bà, ở đây trỏ Tử Do. Chính là thiền, ta quen đọc là thuyền
| Khuất Nguyên và thơ ca của ông |  | 中国国际广播电台
Khuất Nguyên là nhà thơ được nhân dân Trung Quốc kính trọng nhất và yêu thích nhất trong hàng nghìn năm nay. Ông sống vào thời ky Chiến Quốc (từ năm 475 đến năm 221 trước công nguyên ). Cái gọi là “Chiến Quốc” là vì đây là một thời đại các nước chư hầu san sát, hỗn chiến không ngừng. Trong đó nước Tần và nước Sở là hai nước có thực lực lớn mạnh nhất lúc đó. Mười mấy nước nhỏ khác đều dựa vào hai nước này.
Khuất Nguyên là quý tộc nước Sở, và đảm nhiệm chức quan cấp cao. Ông có học thức uyên bác, giỏi về ngoại giao, ban đầu, ông được nhà vua nước Sở ưa thích và tin tưởng. Trong thời đại đó, nhà vua và quyền quý các nước đều tranh nhau thu hút nhân tài phục vụ cho mình, cho nên họ tiếp đãi nhân tài một cách lễ phép. Lúc đó, nhiều người có học thức nổi tiếng đều du thuyết ở các nước, nỗ lực hết sức nhằm thực hiện lý tưởng chính trị của mình. Nhưng Khuất Nguyên không như vậy, ông rất quyến luyến tổ quốc, mong phụ tá nhà vua nước Sở bằng tài hoa của mình, khiến nước Sở chính trị dân chủ, thực lực nhà nước mạnh mẽ. Với lý tưởng như trên, Khuất Nguyên cho đến chết cũng không muốn rời khỏi tổ quốc. Điều đáng tiếc là, vì Khuất Nguyên có mâu thuẫn gay gắt với tập đoàn quý tộc hủ bại nước Sở về mặt nội chính và ngoại giao, hơn nữa lại bị người khác vu cáo hãm hại, Khuất Nguyên bị nhà vua nước Sở xa lánh, sau đó, địa vị nước lớn và thực lực nhà nước mạnh mẽ của nước Sở dần dần suy sụp. Năm 278 trước công nguyên, quân đội nước Tần đánh phá Dĩnh Đô, thủ đô nước Sở. Nước tan nhà tan, Khuất Nguyên không chịu nổi nỗi căm phẫn, nhảy xuống sông tự tử. Khuất Nguyên để lại di sản bất hủ cho đời sau. Là nhà thơ sáng tác độc lập đầu tiên, bài thơ “Ly Tao”—tác phẩm tiêu biểu của ông là một bài thơ trữ tình chính trị mang đậm chủ nghĩa lãng mạn dài nhất trong lịch sử văn học cổ đại Trung Quốc. Trong bài thơ, tác giả dẫn lại nhiều điển tích lịch sử, mong nhà vua nước Sở học các quân chủ thánh hiền sáng suốt trong truyền thuyết như nhà vua Nghiêu, Thuấn, Vũ, trong nước trọng dụng nhân tài, công bằng vô tư, thực thi đức chính; đối ngoại thì tích cực liên hợp với các nước khác chống lại nước Tần. Bài thơ “Ly Tao” đột phá hình thức biểu hiện của cuốn sách “Kinh Thi”—tập thơ đầu tiên của Trung Quốc, tăng cường sức biểu hiện của thơ ca, mở ra một không gian mới cho sáng tác thơ ca cổ đại Trung Quốc. Do vậy, người đời sau gọi chung “Sở Từ” và “Kinh Thi” là “Phong, Tao”. “Phong, Tao” là cội nguồn của hai truyền thống chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa lãng mạn trong lịch sử thơ ca Trung Quốc. Ngoài tác phẩm tiêu biểu “Ly Tao” ra, bài văn “Thiên Vấn” của Khuất Nguyên là một bài thơ lạ lùng hiếm thấy từ trước đến nay, dùng câu nghi vấn nêu ra 172 vấn đề liền với ông trời, đề cập tới nhiều lĩnh vực như thiên văn, địa lý, văn học, triết học v.v., thể hiện tinh thần khoa học mạnh dạn hoài nghi quan niệm truyền thống và theo đuổi chân lý của nhà thơ. Ngoài ra, “Cửu Ca” là một nhóm bài hát tế thần, được sáng tác trên cơ sở bài hát tế lễ dân gian, trong thơ, nhà thơ sáng tạo nhiều hình tượng thần tiên, đa số là bài hát tình yêu giữa loài người và thần tiên. Tác phẩm của Khuất Nguyên thể hiện nhiều ý nghĩ lạ lùng, ông nhân cách hóa hoa cỏ cây cối, sáng tạo nhiều hình tượng nàng tiên, để gửi gắm tình cảm cao cả của mình. Cho nên, đọc tác phẩm của Khuất Nguyên, không những có thể thể nghiệm cái đẹp đẽ của ngôn ngữ, cái lạ lùng của ví dụ, mà còn có thể thể nghiệm tình cảm cao cả và tình yêu quê hương yêu đất nước của nhà thơ. Bởi vậy, hàng nghìn năm nay, Khuất Nguyên luôn là nhà thơ cổ điển được người Trung Quốc kính trọng nhất. |
Giới thiệu về nhà thơ Đỗ Phủ
Nếu Lý Bạch được người đời gọi là Thi Tiên thì Đỗ Phủ được gọi là Thi Thánh - vị Thánh trong làng thơ. Gọi là Thánh không chỉ vì tâm hồn cao đẹp mà còn vì nghệ thuật thơ ca bậc thầy của ông. Nhà thơ Nguyễn Du của chúng ta khi đi sứ Trung Quốc có đến viếng mộ ông và viết mấy câu thơ: Thiên cổ văn chương thiên cổ sư Bình sinh bội phục bất thường li (Nghìn thưở văn chương đúng bậc thầy Trọn đời khâm phục dám đơn sai) Lỗi Dương Đỗ Thiếu lăng mộ. Đỗ Phủ sinh năm 712 mất năm 770, người huyện Củng tỉnh Hà Nam, xuất thân trong một gia đình Nho học, làm quan suốt mấy đời, nhưng đến đời ông thì sa sút nghiêm trọng. Ông lại sống trọn vẹn trong hoành cảnh loạn ly (loạn An Sử), ngược xuôi chạy loạn, gia đình ly tán, con chết đói... Và rồi ông cũng chết thảm thương vì đói và bệnh tật trong một chiếc thuyền rách nát trên sông Tương nơi đất khách quê người. Ông để lại hơn 1400 bài thơ. Thơ của Đỗ Phủ thấm máu và nước mắt của nhân dân trong thời buổi loạn ly. Nếu trong thơ Lý Bạch có dòng sông hát ca, chim muông ríu rít, vầng trăng duyên dáng thì trong thơ Đỗ Phủ dòng sông nức nở, vầng trăng thổn thức và chim muông, cỏ cây câm lặng, úa vàng. Người đời gọi thơ ông là một tập Thi sử (một bộ sử viết bằng thơ). Men theo năm tháng của các bài thơ ra đời, chúng ta có thể thấy được những nét chính của đời sống chính trị, xã hội đời Đường trước và sau loạn An Sử. Trước loạn An Sử (755 - 763) hai hiện tượng xã hội nổi bật là thói ăn chơi xa hoa, dâm dât của vua quan và chiến tranh bành trướng xâm lược. Nhà thơ lớn của nhân dân đã cùng nhịp thở với trăm họ, đứng ở vị trí của những nạn nhân mà nói lên niềm uẩn ức không kìm nén được. "Lệ nhân hành" miêu tả cảnh yến tiệc linh đình của chị em Dương Quý Phi cùng với các vương tôn công tử bên bờ sông. Đũa làm bằng sừng tê ngưu. Thức ăn là bướu lạc đà. Kèn sáo vang động cả quỷ thần mà họ không buồn nghe, thức ăn quý do bếp nhà vua dâng họ không buồn gắp. Giọng thơ đều đều như khách quan mà không giấu được uẩn ức. "Từ kinh đô về huyện Phụng Tiên" (Tự kinh đô phó Phụng Tiên) làm vào năm 755, năm đó An Lộc Sơn đã khởi loạn nhưng chưa vào đến Trường An, cũng là năm đói kém, người chết như rạ. Nhưng Đường Minh Hoàng vẫn cùng Dương Quý Phi yến ẩm ở Ly Sơn. Đỗ Phủ vừa nhậm chức (một chức quan nhỏ, coi kho vũ khí). Trên đường về thăm nhà, mục kích cảnh tượng xa hoa, dâm dật của vua quan, ông làm một mạch 100 câu thơ gồm 500 chữ, tuôn chảy theo nỗi lòng uẩn ức bấy nay. Trong đó có những câu nổi tiếng được người đời truyền tụng: Chu môn tửu nhục xú Lộ hữu đống tử cốt Vinh khô chỉ xích dị Trù trướng nan tái thuật (Cửa son rượu thịt ôi Ngoài đường đầy xác chết Sướng khổ cách gang tấc Quặn lòng không nói được) Đất nước điêu linh, nhân dân cơ cực, nhưng triều đình vẫn liên tục phát động chiến tranh, mở mang bờ cõi. Đỗ Phủ đã đứng về phía những người dân bị bắt phu bắt lính, kịch liệt lên án chiến tranh bành trướng xâm lược. "Binh xa hành" (Bài ca xuất trận) phản ảnh tâm trạng của người ra đi và người tiễn đưa thật ảm đạm. Họ chỉ là con thiêu thân phục vụ tham vọng chinh phục nước Nam Chiếu (vùng Vân Nam bây giờ) để mở rộng biên cương. Nhà thơ còn làm các bài "Tiền xuất tái", "Hậu xuất tái" (Xuất tái là ra cửa ải) châm biếm bọn tướng tá lấy việc chinh phạt để tiến thân. Ông lên tiếng chất vấn nhà vua: Mỗi nước có biên thuỳ Chỉ cần chặn xâm lược Tàn sát để làm chi? Sự xa hoa, dâm dật, bỏ mặc chính sự cùng với việc động binh liên tục đã dẫn đến sự rối loạn của nhà Đường. Loạn An Sử nổ ra, triều đình phải mất 8 năm mới dẹp yên được. Nhân dân rơi vào cảnh lầm than, điêu đứng. Hai hiện tượng nổi bật trong những năm tháng loạn ly này là cảnh bắt lính, bắt phu và cảnh chia ly thê thảm. Chùm thơ "Tam lại" (ba bài nói về cảnh nha lại bắt lính, bắt phu ở Đồng Quan, Tân An và Thạch Hào). Tam biệt (ba bài nói về cảnh ly biệt giữa đôi vợ chồng già giữa đôi vợ chồng trẻ và giữa một người lính già với ngôi nhà bị phá rụi: Thuỳ lão biệt, Tân hôn biệt, Vô gia biệt). Bài "Nha lại bắt lính ở Thạch Hào" (Thạch Hào lại) đã vẽ nên một cảnh tượng điển hình: Nha lại chờ lúc mọi người ngủ say để xông vào nhà bắt lính. Cả gia đình (mà nhà thơ ngủ nhờ trên đường về nhậm chức ở Hoa Châu thăm vợ nơi tản cư) có ba con trai đều ra trận, hai đứa đã chết;trong nhà chỉ còn hai ông bà già và một cô con dâu với đứa bé còn bú trên tay. Thế mà Nha lại vẫn đòi người, ông già phải vượt tường trốn và bà già phải đi thay để nấu cơm cho quân sĩ. Nhà thơ tự nén mình trước tiếng khóc uẩn ức của xóm làng khi bọn Nha lại kéo đi, đêm đen lại trùm lên xóm làng hoang vắng. Bài "Tân hôn biệt" (Cuộc chia ly của đôi vợ chồng trẻ mới cưới) mô tả cảnh tượng thê thảm của người vợ trẻ: Cưới chiều hôm, vắng sớm mai Duyên đâu lật đật cho người dở dang. "Tam lại", "Tam biệt" là chùm thơ nổi tiếng của Đỗ Phủ. Gọi thơ ông là Thi sử bởi vì cái ấn tượng binh đao khói lửa nội chiến mà thơ ông gieo vào lòng người còn sâu sắc gấp trăm lần các bộ sách viết về thời này. Nhưng Đỗ Phủ không hề "viết sử" một cách khách quan. Ông đã đứng hẳn về phía "dân đen", coi nỗi đau của họ như nỗi đau của chính mình, ước mong san sẻ gánh nặng cơm áo và dằn vặt tâm linh với họ. Tư tưởng nhân đạo của Đỗ Phủ là đỉnh cao của chủ nghĩa nhân đạo dưới thời phong kiến. Một nhà nho suốt đời long đong lận đận nhưng luôn quan tâm đến vận nước, mà quan tâm đến vận nước cốt để giảm nhẹ gánh nặng cơm áo và sự dằn vặt tâm linh của người dân bình thường. Bài "Mao ốc vi thu phong sở phá ca" (Túp lều tranh bị gió cuốn sập) thể hiện rõ nhân cách của ông. Trên đường chạy loạn, nhờ người bạn giúp đỡ ông dựng được túp lều tranh, nhưng rồi bị gió phá sập. Trong cảnh màn trời chiếu đất ông đau đớn cho thân phận riêng và không quên nghĩ đến những "hàn sĩ" như mình. Ông có ước mơ thật cao cả: Ước gì có được ngôi nhà vạn gian Che cho kẻ sĩ nghèo trong thiên hạ, ai nấy đều hân hoan. Ước mơ cũng được thể hiện trong bài "Hựu trình Ngô lang" (Lại nhắn người họ Ngô). Cũng trên đường chạy loạn, ông thuê được một căn nhà nhỏ. Trong vườn có cây táo, hằng ngày bà lão hàng xóm thường chui qua hàng rào nhặt táo rụng cầm hơi. Ra đi, ông nhắn người chủ mới chớ có rào kín mảnh vườn, để bà lão kia còn có thể sống qua ngày. Ước mơ thật tội nghiệp, nhưng cũng thật vĩ đại. Cuối cùng ông còn rút ra được bài học: ăn trộm là do nghèo đói, nghèo đói là do thuế khoá, chiến tranh. Chung quy, Đỗ Phủ đã cùng nhịp thở với nhân dân của mình trước vận nước và trong cảnh đói nghèo, loạn ly. Ông viết về mọi đề tài. Nhưng hầu như không có đề tài nào thoát ly thời cuộc. "Đỗ Phủ là nhà thơ chính trị vĩ đại nhất trong lịch sử văn học Trung Quốc" (Lịch sử văn học Trung Quốc - Viện Khoa học Trung Quốc 1988). Khác với Lý Bạch - nhà thơ lãng mạn, ngòi bút Đỗ Phủ luôn bám sát đời sống, hay nói như Lương Khải Siêu, ông là nhà thơ "tả thực chi tiết". Ông lại đặc biệt chú trọng ngôn từ thơ ca, chủ trương "ngữ bất kinh nhân, tử bất hưu" (lời thơ không làm người ta kinh hoàng thì chết không nhắm mắt). Do vậy thơ ông gieo vào lòng người đọc ấn tượng sâu sắc về cuộc sống, về nỗi cơ cực của nhân dân, về số phận "gian nan khổ hận" cùng cảnh ngộ với "dân đen" của chính ông. Đặc biệt Đỗ Phủ có nhiều bài luật thi rất chuẩn mực, chính tỏ sự tu dưỡng về thơ rất uyên thâm của Thi Thánh. Ảnh hưởng của Đỗ Phủ đến đời sau rất sâu sắc. Đó là ảnh hưởng về nhân cách, luôn luôn đồng cam cộng khổ với nhân dân, lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ. Đó còn là ảnh hưởng về con đường sáng tác thơ ca: thành công của nhà thơ tùy thuộc vào vốn sống của nhà thơ, vào độ chín trong quá trình chiếm lĩnh hiện thực. Đó còn là tài năng thơ ca, một tài năng siêu việt được Nguyễn Du tôn làm bậc thầy của văn chương muôn thuở. Cô phàm viễn ảnh bích không tận Duy kiến trường giang thiên tế lưu Bùi Quốc Huy
Thơ Đường vừa độc đáo, vừa cổ điển. Là một thành tựu rực rỡ của văn học đời Đường , văn học Trung Quốc nói riêng hay văn học thế giới nói chung . Có khoảng 48900 bài thơ của hơn 2300 tác giả .
Thơ Đường
A. Mấy nét khái quát về thơ Đường
Là một thành tựu rực rỡ của văn học đời Đường , văn học Trung Quốc nói riêng hay văn học thế giới nói chung . Có khoảng 48900 bài thơ của hơn 2300 tác giả .
Thơ Đường vừa có bề rộng , bề thế lại có những đỉnh cao như : Lý Bạch , Đỗ Phủ , Vương Duy , Bạch Cư Dị , Thôi Hiệu ,...
Thơ Đường vừa độc đáo , vừa cổ điển , mang màu sắc Trung Quốc rõ nét , thể hiện đầy đủ , tập trung những thể loại thơ . Song về nhiều mặt , thơ Đường còn có ý nghĩa hiện đại .
B. Nguyên nhân phát triển của thơ Đường
1. Truyền thống thơ ca của Trung Quốc
Trước đời Đường 2000 năm , xuất hiện tập thơ ca dân gian nổi tiếng " kinh thi " . Còn trước 300 năm , có một danh nhân cũng rất nổi tiếng ( nhà thơ Trung Quốc đầu tiên ) với " Ly Tao " , đó là Khất Nguyên . Trong 400 năm thời Lục triều , ở Trung Quốc có thơ ca dân gian gắn với các nhà thơ nổi tiếng : Tào Thực , Nguyễn Tịch ,....
---> Mảnh đất màu mỡ cho thơ ca đời Đường phát triển .
2. Điều kiện xã hội
- Thời thịnh Đường : kinh tế , văn hóa , xã hội ,.... mọi mặt đều phát triển . Đặc biệt , có sự giao lưu văn hóa giữa Trung Quốc với các nước ngoại lai và các nhà tư tưởng , văn hóa đời Đường đã tiếp thu những tư tưởng triết học , ngũ đạo ,.... của các nước láng giềng ---> tiền đề cho thơ ca , kích thích nhiệt tình sáng tạo , mở ra trước mắt nghệ sĩ chân trời mới của cảm hứng nghệ thuật .
- Thời trung Đường ( biến loạn An Lộc Sơn - Chu Tử Minh ) , thơ ca phát triển cả ở bề sâu , gắn với hiện thực cuộc sống.
3. Chế độ thi cử ở Trung Quốc
Khiến việc sáng tác , nghiên cứu thơ trở thành phong trào rực rỡ .
C . Một số đặc điểm về hình thức nghệ thuật của thơ Đường
I . Thể thơ
1. Đường luật :
Là một thể thơ được quy định chặt chẽ bởi một hệ thống vần , luật , niêm , đối và kết cấu
Một số đặc điểm về thể thơ Đường luật :
- Vần : Cuối câu một và các câu chẵn thông thường là gieo vẫn bằng .
-Luật bằng trắc : Nhị - tứ - lục phân minh
Nhất - tam - ngũ bất luận .
- Niêm : Chữ thứ hai của niêm một cùng thanh với chữ thứ hai của câu một liên 2 .
- Đối : ở liên hai và ba ( thanh , từ , ý nghĩa ,...)
-Dạng thơ của thơ Đường luật :
+ Bát cú ( 8 câu )
+ Tuyệt cú ( 4 câu )
+ Trường luật ( nhiều câu )
2. thơ cổ phong :
Đây là một thể thơ tương đối tự do về nhiều mặt . Tuy nhiên nhiêu bài bị thơ Đường luật ám ảnh , chi phối .
3. Thể từ :
Là một thể kết hợp với âm nhạc ( trước đời Đường ) được viết theo công thức của các điệu từ ( phổ từ ) . Số chữ trong câu ngắn , dài không đều ( trường đoản cú ) .
II . Đặc điểm về ngôn ngữ và tứ thơ của thơ Đường luật :
1. NGôn ngữ thơ Đường đơn giản , quen thuộc :
- Có khả năng diễn đạt vô cùng tinh tế , phong phú nhờ công phu tinh luyện của các nhà thơ .
---> Tính hàm xúc cao , tính gợi rất lớn . Mở ra cả một chân trời cảm xúc .
2. Tứ thơ :
- Tứ thơ Đường sâu , lạ mà độc đáo
Dùng cảnh nói tình , dùng động nói tĩnh , thường dựng nên những mối quan hệ trong tứ thơ như : xưa _ nay , mộng _ thực , tiên _ tục , sống _ chết , vô cùng _ hữu hạn , cảnh _ tình , không gian _ thời gian ,...
Khi phân tích thơ Đường ta phải tìm những mối quan hệ đó trong tứ thơ .
" Ý toại ngôn ngoại " ( ngôn hết mà ý không hết)
"Ý đáo nhi bút bất đáo " ( ý đến nhưng ngòi bút chưa đến )
" Họa vân hiển nguyệt " ( vẽ mây lại ra trăng )
Người đọc phải lấy từ cái gì đã có sắn để tìm ý mà tác giả muốn biểu đạt . Thủ pháp gợi ...
Đặc biệt bút pháp tả cảnh của thơ Đường thường là bút pháp chấm phá và vẽ toàn cảnh từ xa . Truyền linh hồn , thổi hồn vào tạo vật chứ không vẽ thân xác của tạo vật
D. Thơ Đường với văn học Việt Nam
Mối liên hệ mật thiết với văn học Việt Nam trên nhiều phương diện về đề tài , nội dung , cách xây dựng hình ảnh , kết cáu , tứ thơ , ngôn ngữ , thể loại , chất liệu ngôn từ ,... đặc biệt về nội dung hiện thực và nhân đạo của thơ Đường đã tác động tích cực đến nhiều nhà thơ Việt Nam
Các nhà thơ Việt Nam học thơ Đường trên tinh thần dân tộc hóa . (myopera.com)
| Tìm hiểu cái đẹp sâu lắng trong thơ Haiku Nhật Bản | Nhờ cầu nối giao lưu ngày càng mở rộng trong thế giới hiện đại, từ lâu nền văn học Nhật Bản đã không còn xa lạ với bạn đọc Việt Nam. Công chúng nước ta đã quen với thơ Haiku của nhiều nhà văn cổ điển và hiện đại đến từ xứ mặt trời mọc. Nếu như áo Kimônô là áo truyền thống của Nhật Bản thì thơ Haiku là biểu hiện phong cách và tâm hồn của họ. Thơ Haiku là toàn bộ thế giới thơ ca nghệ thuật, là thơ ca của cảm thức, của trực giác tâm linh thường nhắc đến nhiều nhất là Sabi (tịch). Cảm thức cái đẹp Sabi, muốn ám chỉ bằng một loạt từ khác nhau như: cô liêu, tịch lặng, cổ xưa đơn sơ,… cái đẹp thiên nhiên làm cho thơ Haiku hài hoà giữa đất trời và tâm hồn con người, giữa thực tại và thiên nhiên vũ trụ, Trong chữ Nhật, một bài thơ Haiku thường nằm gọn trong một dòng, càng có vẻ ít lời mà độ nén chiều sau nghệ thuật cao và hầu như ít có đầu đề. Khi dịch ra tiếng nước ngoài thường xếp thành ba dòng, trông như ba câu, là một thể thơ phát triển lạ thường từ thế kỷ XVII ở Nhật. Hiện nay, thơ Haiku đã xâm nhập vào nền thơ ca của nhiều nước Đông – Tây. Bài: Dù tan đi vỡ lại Vần trăng nơi đáy nước Còn mãi. Cho dù có sóng dữ ba đào nhưng cuối cùng vần trăng đáy nước vẩn còn in bóng, đọng lại mối tình thể hiện cái tâm hồn nội tâm trong thơ. Trong chiều sâu thẳm thì nỗi buồn cũng là cái đẹp của tâm hồn, cái đẹp cô đơn tịch lặng, có thể so sánh cái tôi cô đơn trong thơ lãng mạn Việt Nam. Bài: Trên cành khô, cánh quạ đậu, chiều thu Bài thơ đơn sơ tột độ mà sâu thẳm tột cùng. một buổi chiều mùa thu xám tối, âm u “đậu” trên cành khô hiu hắt, duường như bất động nhưng nó đang chuyển động cả vũ trụ, cả sự mênh mông cô tịch của hoàng hôn. Toàn thể hình ảnh là sự cô tịch. Cành cây, con quạ, chiều thu là sụ cô tịch trong tâm hồn như lắng nghe niềm im lặng bất tuyệt của chân không. Bài: Ao cũ, con ếch nhảy vào, vang tiếng lao xao. Dường như là tiếng vang của nước mà con ếch đã khuấy động nên, ao cũ tịch lặng, con ếch dường như đánh thức vũ trụ bằng cái nhảy vào cái ao lá toàn bộ đời sống thực tại vẫn đang tràn dầy sinh lực. Bài: Chim Kankodori ơi, đem nỗi buồn thăm thẳm, lắng động vào tôi. Biểu tượng chim Kankodori có thể như cánh cò trong văn học Việt Nam trong buổi chiều tà hoàng hôn, cái tôi buồn hay cái đẹp nỗi cô đơn mất mác của chim Quốc đem nỗi buồn sâu thẳm của tình người lắng đọng trong cái tôi buồn. Nét đẹp cô đơn này không phải là ngục tù của riêng lẽ mà cô đơn với đất trời vũ trụ là sự chững lại những huyền diệu của thiên nhiên. Thẩm mỹ Sabi là cách diễn đạt sinh động tư tưởng nền tảng trong nghệ thuật Phù Tang. Cái đẹp thiên nhiên quyện vào tình người, mượn chiếc gàu bị vương dây bìm bịp là cái cớ làm quen, trong bài: Hoa Bìm bịp, chiếc gàu vương bên giếng, đành xin nước nhà bên. Cái đẹp ngộ nghỉnh đưa hai tâm hồn bạn trẻ gần nhau, tình cảm nẩy nở chất chứa trong lòng tiềm ẩn từ lâu nay mới có cơ hội dâng trào. Bài thơ thể hiện cách làm quen lấy cớ chiếc gàu vương, đành xin nước nhà bên. Hoa bìm bịp là loại hoa dại vắt trên bụi cây làm sao vương gàu là cái cớ chấp nhận được, với nét đẹp kín đáo của người con gái thôn dã làm xao xuyến tâm hồn người con trai. Bài thơ giống ca giao Việt Nam trong bài “Tát nuớc bên đình” quên áo trên cành hoa sen và hoa sen làm gì có cành cũng là cái cớ. Hai cái cớ trong văn học viết và trong văn học dân gian Á đông xa nhau về không gian nhưng có chút gì gần nhau về thời gian, “quên áo” hay “vương gàu” đều là cái cớ để xích lại gần nhau, biểu hiện tình cảm sâu lắng của tâm hồn đôi trai gái. Dường như tâm hồn của hai dân tộc phương Đông đã tìm thấy chỗ tương hợp qua sự đồng cảm với những vần thơ hàm súc mang chiều sâu triết lý Phương Đông. Có thể nói cái đẹp sâu lắng trong thơ Haiku Nhật Bản qua những bài thơ trên là cái đẹp tình người, hoà lẫn thiên nhiên quyện vào cái tôi dịu dàng lắng động là nét đẹp độc đáo trong thơ Haiku vậy.
Nguyễn Nghi - Huế |
Gải Nobel cho Văn Chương Việt Nam
Mục tiêu tối hậu của Liên hội Thi Nhân VN Quốc Tế là nhằm phát huy thơ VN để trong vòng 50 năm nữa sẽ có tên thi sĩ VN trong danh sách nhũng người nhận được giải thưởng Nobel về văn học

The Nobel Prize Award CeremoniesThe Nobel Laureates take center stage in Stockholm on 10 December when they receive the Nobel Prize Medal, Nobel Prize Diploma and document confirming the Nobel Prize amount from King Carl XVI Gustaf of Sweden. In Oslo, the Nobel Peace Prize Laureates receive their Nobel Peace Prize from the Chairman of the Norwegian Nobel Committee in the presence of King Harald V of Norway. An important part is the presentation of the Nobel Lectures by the Nobel Laureates. In Stockholm, the lectures are presented days before the Nobel Prize Award Ceremony. In Oslo, the Nobel Laureates deliver their lectures during the Nobel Peace Prize Award Ceremony. |